Category Archives: Thị Trường FMCG – Hệ thống phân phối

Kênh thông tin hữu ích về thị trường nông sản trong và ngoài nước. Các hệ thống phân phối trên toàn quốc cũng như nước ngoài của mặt hàng nông sản

 

 

Báo Cáo Ngành FMCG Sáu Tháng Đầu Năm 2020

Vừa qua, công ty nghiên cứu thị trường Kantar đã phát hành báo cáo ngành hàng FMCG cho sáu tháng đầu năm 2020, đem lại cái nhìn toàn cảnh về thị trường FMCG Việt Nam trong giai đoạn đầy biến động này. Báo cáo sáu tháng đầu năm 2020 đã đề cập đến những xu hướng của người tiêu dùng hay những mặt hàng nổi trội trên thị trường trong mùa COVID được thu thập tại 4 thành phố chính và các vùng nông thôn trên toàn quốc. Báo cáo xoay quanh sáu chủ đề chính, bao gồm: tình hình COVID, các chỉ số kinh tế, toàn cảnh thị trường FMCG, tiêu điểm, kênh mua sắm, và ngành hàng tiêu biểu.

1. Diễn biến dịch COVID-19 khu vực Đông Nam Á và ở Việt Nam

Số ca nhiễm COVID-19 ở châu Á được cập nhật theo tuần

Các nước châu Á, trong đó có Việt Nam đang dần làm quen với những tác động của dịch COVID và đang bước vào giai đoạn “bình thường mới”. Tuy nhiên, những diễn biến mới của dịch bệnh vào tháng 7 lại một lần nữa làm tổn hại nền kinh tế cũng như sức khỏe của con người. Indonesia, Philippines và gần đây là Việt Nam ghi nhận một số ca bệnh mới và một số ca tử vong, với khả năng đón nhận làn sóng COVID thứ hai vào nửa sau năm 2020.

2. Các chỉ số kinh tế của Việt Nam hai quý đầu năm 2020

Chỉ số tăng trưởng GDP giảm trong nửa đầu năm 2020, từ 3.82% xuống 0.36%. Điều này chứng tỏ Việt Nam đã và đang chịu tác động không nhỏ của đại dịch đến với nền kinh tế. Kantar đưa ra 2 dự báo: Một là, quá trình phục hồi sẽ diễn ra từ quý 3 đến cuối năm để trở lại mức 3.8%. Hai là, tăng trưởng GDP sẽ tiếp tục giảm xuống còn -0,1%. Bên cạnh GDP, chỉ số giá tiêu dùng CPI sau mức tăng vượt bậc ở quý 1 (5.6), đã giảm xuống mức 2.8 vào quý 2. Cuối cùng, hai quý đầu năm cũng ghi nhận sự sụt giảm đáng kể của doanh số bán lẻ hàng tiêu dùng.

COVID-19 cũng kéo theo nhiều tác động tiêu cực khác đến nền kinh tế, trong đó nổi bật là FDI giảm 15.1%, và tỷ lệ thất nghiệp tăng 2.51%.

Các chỉ số kinh tế của Việt Nam hai quý đầu năm 2020

3. Tổng quan ngành FMCG Việt Nam

Ngành FMCG chứng kiến sự gia tăng bất thường trong chi tiêu FMCG cho tiêu dùng nội địa trong 6 tháng đầu năm 2020. Chi tiêu của người tiêu dùng vào FMCG tăng mạnh, đặc biệt trong tháng ba và tháng tư chủ yếu do tác động của Lệnh giãn cách xã hội do COVID-19. Tuy nhiên, thị trường FMCG được kỳ vọng sẽ trở lại “mức tăng trưởng một con số” khi tình hình lắng xuống.

Tăng trưởng giá trị ngành FMCG Việt Nam năm 2020 ở thành thị và nông thôn (đơn vị: %)

4. Những ngành hàng nổi trội

Hầu hết các ngành hàng tiêu dùng nhanh, đặc biệt là các sản phẩm từ sữa và thực phẩm đóng gói đều có doanh thu tốt trong đợt dịch này. Ngành đồ uống là ngành duy nhất bị ảnh hưởng nặng nề trong dịch COVID-19.

Chi tiết hơn, phần lớn các mặt hàng FMCG đạt được hiệu suất tốt trong nửa đầu năm 2020. Các sản phẩm vệ sinh, tăng cường sức khỏe, đồ ăn nhẹ & thực phẩm tiện lợi cho việc ăn uống và nấu nướng tại nhà có mức tăng trưởng ấn tượng trong thời gian COVID-19.

Thay đổi giá trị các ngành hàng FMCG Việt Nam (đơn vị: %)

5. Bối cảnh thị trường bán lẻ

Tạp hóa vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra chi tiêu gia tăng, nhưng đại siêu thị, siêu thị và các kênh mới nổi đang ngày càng đóng góp nhiều hơn vào tăng trưởng FMCG.

6. Xu hướng mua hàng đáng chú ý

Chi tiêu cho tiêu dùng ngoài nhà đã phục hồi nhanh chóng sau giãn cách xã hội nhưng vẫn chưa trở lại mức trước khi diễn ra COVID. Điểm nổi bật là kênh giao hàng (Delivery) đang tăng trưởng mạnh mẽ trong dịch COVID-19.

Giá trị chi tiêu cho thức ăn và đồ uống tại TP.HCM (đơn vị: triệu $/tháng)

Tài liệu tham khảo

Hoang, N., 2020. FMCG Monitor June 2020 – Vietnamese – Kantar Worldpanel. [online] Kantarworldpanel.com. Available at: <https://www.kantarworldpanel.com/vn/news/FMCG-Monitor-June-2020> [Accessed 25 August 2020].

Thực trạng và xu thế phát triển của hệ thống phân phối nông sản an toàn của Việt Nam hiện nay. Kinh nghiệm của Thái Lan và bài học cho Việt Nam

Thực trạng và xu thế phát triển của hệ thống phân phối nông sản an toàn của Việt Nam hiện nay. Kinh nghiệm của Thái Lan và bài học cho Việt Nam

<center>Ảnh: Internet</center>” src=”https://lh3.googleusercontent.com/ZlKgQi5PPz0YZSWcH8BPb7Qr3oxRYL0_vKD3KgmsLb1KxHRcQTu80wOWgn3uYIKxZFze7n72cSg1AnzRj27T_H9mAdye3NUSTOtfpCN0x-vNpRrW6XX67wO3EWvTR5SGheM9MTE7″ width=”602″ height=”401″>Ảnh: Internet</td></tr><tr><td><strong>Phân phối thực phẩm nông nghiệp là một vấn đề cấp bách ở Việt Nam do hiện nay Việt Nam chưa có hệ thống chứng nhận rõ ràng và thông tin đẩy đủ về thực phẩm nông nghiệp an toàn ảnh hưởng đến niềm tin của khách hàng và tên thương hiệu của sản phẩm. Áp dụng lý thuyết Push and Pull của Bonney và cộng sự (1999), nghiên cứu phân tích rằng chính phủ Việt Nam đã tạo ra các chiến lược và chính sách để thiết lập một hệ thống phân phối thực phẩm nông nghiệp hiện đại với thông tin về nguồn gốc thực phẩm nông nghiệp và tiêu chí an toàn và các doanh nghiệp phân phối đã đáp ứng yêu cầu của thị trường toàn cầu hóa và hiện đại. Tuy nhiên, vẫn còn có những trở ngại trong việc phát triển đầy đủ hệ thống phân phối nông sản thực phẩm ở Việt Nam bao gồm: thiếu hệ thống chứng nhận để nâng cao lòng tin của khách hàng, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên để đảm bảo nguồn cung bền vững và nhu cầu thị trường không dự đoán . Nghiên cứu các chính sách và sự phát triển của toàn bộ thị trường nông sản thực phẩm của Thái Lan có ảnh hưởng đến hệ thống phân phối có ảnh hưởng đến quốc gia, nghiên cứu rút ra các bài học chính sách cho Việt Nam.</strong></td></tr></tbody></table></figure>



<figure class=
1. Đặt vấn đề1.1. Lý do thực hiện nghiên cứuTrong những năm gần đây, Việt Nam ngày càng đối diện với thách thức nghiêm trọng về thực phẩm không an toàn, đe dọa đến sức khỏe và tính mạng của người tiêu dùng và hệ thống phân phối nông sản – thực phẩm còn yếu, chưa có được niềm tin của người tiêu dùng và khai thác được tối đa tiềm năng nông nghiệp của Việt Nam. Thực phẩm sạch, an toàn đang trở thành nhu cầu cấp thiết của người tiêu dùng. Trong nhiều năm qua, Việt Nam vẫn chưa lựa chọn được những giải pháp hiệu quả để phát triển kênh phân phối thực phẩm an toàn thực sự đến tay người tiêu dùng.Mặc dù Việt Nam đã có Luật An toàn thực phẩm từ năm 2010 và bắt đầu thực hiện từ tháng 7/2011, tuy nhiên cho đến nay hệ thống thể chế và chính sách về an toàn thực phẩm vẫn đang hoàn thiện và còn nhiều bất cập. Chính phủ, các bộ, ngành có liên quan đã tăng cường các biện pháp mạnh nhằm tạo dựng một nền sản xuất sạch, kiểm soát tốt chất lượng an toàn thực phẩm. Trên thực tế, việc xây dựng một thị trường nông sản sạch còn nhiều khó khăn. Người tiêu dùng chỉ có thể nhận biết được thực phẩm không an toàn phần lớn là nhờ vào các cơ quan thanh tra, điều tra của báo chí, hoặc thông tin của một số cá nhân, và cũng không thể nhận biết được thực phẩm bẩn ở mức độ nào so với thực phẩm an toàn. Bên cạnh đó, hiện nay Việt Nam chưa có một chiến lược tổng thể và dài hạn xây dựng hệ thống phân phối nông sản – thực phẩm hiệu quả, các hệ thống chứng chỉ có uy tín tầm cỡ quốc tế để thuyết phục người tiêu dùng. Kết nối của kênh phân phối với các đơn vị sản xuất còn bị động, ảnh hưởng bởi thời tiết mùa vụ. Vì vậy, việc đưa ra những giải pháp đột phá nhằm phát triển kênh phân phối thực phẩm nông sản an toàn cho người tiêu dùng là yêu cầu cấp thiết.1.2. Xác định vấn đề nghiên cứuNghiên cứu hiện trạng phân phối nông sản – thực phẩm của Việt Nam và các kinh nghiệm của Thái Lan, nhóm tác giả xác định câu hỏi nghiên cứu như sau:(i) Hệ thống phân phối nông sản – thực phẩm của Việt Nam đang có những điểm bất cập nào?(ii) Kinh nghiệm của Thái Lan có thể áp dụng cho bối cảnh của Việt Nam như thế nào?2. Tổng quan nghiên cứu2.1. Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyếtTrên thế giới có nhiều nghiên cứu về hệ thống sản xuất – phân phối – tiêu thụ nông sản – thực phẩm dưới góc độ quản lý. Salin (1998) cho rằng phân phối nông sản – thực phẩm là hệ thống phức tạp do tác động của vòng đời sản phẩm ngắn, thời tiết ảnh hưởng đến nguồn cung sản phẩm và an toàn thực phẩm và chất lượng thực phẩm tác động lớn đến thị trường tiêu dùng (tr.329-33). Theo T. Heller (2002), khi toàn cầu hóa gia tăng, với thông tin và lựa chọn về sản phẩm ngày càng phong phú, thị trường tiêu dùng đòi hỏi hệ thống phân phối nông sản – thực phẩm ngày càng cao về chất lượng, độ tươi ngon và phong phú. Nhu cầu mua nông sản – thực phẩm tại các siêu thị có công bố chất lượng sản phẩm chi tiết hơn ngày càng lớn. Burch, D.Lawrence, G.(2007) cho rằng quyền lực trong hệ thống phân phối nông sản – thực phẩm đã từ từ chuyển từ cơ sở sản xuất, thương hiệu thực phẩm sang các siêu thị bán lẻ lớn. Các tiêu chuẩn và công bố chất lượng dần dần do các siêu thị bán lẻ này áp đặt và đặt hàng hơn là các nhà sản xuất tự kiểm soát sản phẩm của mình. Hiện tượng này đã xảy ra ở nhiều nơi như châu Âu, Bắc Mỹ và Ấn Độ. Các nghiên cứu này đã chỉ ra xu hướng phát triển của hệ thống phân phối nông sản – thực phẩm, tuy nhiên rất ít nghiên cứu xử lý các khó khăn của một thị trường đang phát triển như Việt Nam cũng như cách để tháo gỡ các vướng mắc của hệ thống phân phối nông sản – thực phẩm hiện nay trong bối cảnh Việt Nam có nhiều tiềm lực về nông nghiệp nhưng chưa có nội lực nguồn nhân lực, khoa học kỹ thuật và chính sách dài hạn cho khu vực này.Ở Việt Nam, các lý luận về sức ảnh hưởng của các mắt xích trong hệ thống phân phối nông sản – thực phẩm chưa được nghiên cứu nhiều. Đặc biệt là đến nay chưa có một hệ thống pháp lý chính thức và thống nhất về nông sản sạch, an toàn hay hữu cơ để phân loại chất lượng nông sản – thực phẩm trên thị trường khiến cho hệ thống phân phối chịu tác động tiêu cực như: thiếu cơ sở cho niềm tin của người tiêu dùng, giá sản phẩm chưa tương xứng với chất lượng sản phẩm và khó xây dựng chiến lược tiếp thị nông sản – thực phẩm. Theo Phạm Hải Vũ – Đào Thế Anh (2016), Việt Nam còn thiếu cơ sở khoa học so với chuẩn thế giới. Theo nghiên cứu này:”Các kênh phân phối ngắn (Người sản xuất – Người tiêu dùng và Người sản xuất – Người bán lẻ – Người tiêu dùng) thường diễn ra ngay tại vùng sản xuất hoặc tại các thị trường gần vùng sản xuất. Những người sản xuất này có quy mô sản xuất nhỏ, có điều kiện về lao động nên vừa tổ chức được sản xuất, vừa tổ chức tiêu thụ được sản phẩm.” (tr.26-27)Theo Võ Thị Ngọc Thúy (2016), Các nghiên cứu về nhãn mác, đặc biệt là nhãn mác an toàn xuất hiện ở Mỹ và châu Âu từ cuối thế kỷ XIX. Tuy nhiên, ở Việt Nam chủ đề này vẫn chủ yếu được nhắc đến trong các bài xã luận, chưa có nghiên cứu hàn lâm (tr.3). Hiện nay tại Việt Nam, có rất nhiều quan điểm và công bố khác nhau về nông sản sạch như rau an toàn, VIETGAP và nông sản hữu cơ. Tuy nhiên, sự minh bạch giữa các khái niệm chưa thuyết phục được thị trường tiêu dùng. Ví dụ về tiêu chuẩn hữu cơ, theo Ngô Minh Hải và Vũ Quỳnh Hoa (2016), hiện nay Việt Nam thiếu hụt nguồn thông tin về các sản phẩm hữu cơ hay chưa có một hệ thống đảm bảo chất lượng hoạt động hiệu quả (tr.1467).Gần đây, cụm từ “nông sản sạch” được hiểu rõ hơn khi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ra Quyết định số 738/QĐ-BNN-KHCN ngày 14/3/2017 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về “Tiêu chí xác định chương trình, dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch, danh mục công nghệ cao ứng dụng trong nông nghiệp”, qua đó khái niệm về nông sản sạch, an toàn có thể được hiểu là nông sản an toàn được sản xuất tại các cơ sở sản xuất kinh doanh đủ điều kiện an toàn thực phẩm; ứng dụng công nghệ cao hoặc áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt.Nhóm tác giả nghiên cứu sử dụng khái niệm hệ thống phân phối nông sản – thực phẩm an toàn theo khái niệm nông sản an toàn được công bố của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Y tế và Bộ Công thương là nông sản được sản xuất theo một quy trình nghiêm ngặt về sản xuất an toàn thực phẩm được các cơ quan liên quan cấp phép và quản lý, giám sát, ứng dụng các biện pháp công nghệ cao, đảm bảo an toàn sức khỏe cho người tiêu dùng và không gây hại cho môi trường. Trong đó, các nhóm tiêu chuẩn cụ thể như Hữu cơ, Không biến đổi gen được hiểu là tối thiểu đáp ứng tiêu chuẩn an toàn sau đó đạt tới các mức chất lượng cao hơn, đáp ứng các nhóm người tiêu dùng có nhu cầu cao. Phân phối nông sản an toàn là kênh trung gian kết nối người sản xuất nông sản an toàn tới tay người tiêu dùng.2.2. Khung lý thuyết sử dụng trong bài viếtNhóm tác giả áp dụng lý thuyết Đẩy và Kéo trong chuỗi cung cứng sản phẩm (Push and Pull của Bonney và cộng sự (1999)) để phân tích các động lực thúc “đẩy” quá trình phát triển của hệ thống phân phối thực phẩm sạch và lực “kéo” từ đòi hỏi của thị trường hiện đại. Theo Bonney và cộng sự, với một chuỗi cung ứng sử dụng chiến lược đẩy, sản phẩm của doanh nghiệp sẽ được đẩy từ phía nhà sản xuất tới nhà bán lẻ qua các kênh phân phối. Nhà sản xuất sẽ thiết kế sản lượng ở mức hợp lí dựa trên số lượng đơn đặt hàng trước đây từ các nhà bán lẻ. Chính vì thế nên sẽ tốn rất nhiều thời gian khi phải điều chỉnh lại nếu có sự thay đổi từ nhu cầu của thị trường. Điều này có thể dẫn đến việc quá nhiều hàng tồn kho dư thừa, gây ra sự tắc nghẽn hoặc chậm trễ, chất lượng dịch vụ xuống dốc và sản phẩm không bắt kịp thị trường. Còn khi sử dụng chiến lược kéo với chuỗi cung ứng, việc thu mua, sản xuất và phân phối dựa theo nhu cầu thực tế thay vì phải dự đoán. Trong hệ thống phân phối nông sản – thực phẩm Việt Nam hiện nay, nhóm tác giả tích hợp yếu tố chính sách là lực Đẩy với các dự báo về việc thúc đẩy sản phẩm nông sản – thực phẩm an toàn và các yêu cầu của thị trường hiện nay là lực “Kéo”. Nhóm nghiên cứu giả định khi lực “Đẩy” và “Kéo” xảy ra ở từng doanh nghiệp/ đơn vị kinh doanh đồng thời thì cần quan sát hai lực này ở tầm vĩ mô hơn – khu vực phân phối nông sản – thực phẩm vì tác động của các chính sách về tiêu chuẩn an toàn và đòi hỏi của thị trường tiêu dùng có hiệu ứng vĩ mô.2.3. Phương pháp nghiên cứuNhóm tác giả sử dụng các phương pháp sau:(i) Tổng hợp và phân tích tài liệu về chính sách hiện nay đối với hệ thống phân phối nông sản – thực phẩm an toàn của Việt Nam; các số liệu nghiên cứu về hiệu quả của hệ thống phân phối này phân tích tác động của chính sách và yêu cầu của thị trường lên hệ thống phân phối nông sản – thực phẩm Việt Nam theo lý thuyết Đẩy và Kéo của Bonney và Cộng sự (1999)(ii) Lựa chọn nghiên cứu trường hợp một số doanh nghiệp phân phối nông sản – thực phẩm của Việt Nam theo tiêu chí chọn mẫu đại diện. Mẫu đại diện cho đơn vị phân phối nông sản – thực phẩm có các đặc điểm:- Có phân phối tỷ lệ lớn trên 50% nông sản – thực phẩm của Việt Nam- Được công bố có đáp ứng các tiêu chuẩn về nông sản – thực phẩm an toàn của Việt Nam- Có hợp đồng với các đơn vị cung cấp nông sản – thực phẩm của Việt Nam- Có tìm đơn vị công bố hoặc tự công bố riêng các tiêu chuẩn theo xu hướng thị trường- Có năng lực kinh doanh và đã phân phối nông sản thực phẩm trên năm (05) năm: thời gian này đủ chứng minh đơn vị phân phối đáp ứng được các yêu cầu của thị trường để tồn tại(iii) Nghiên cứu kinh nghiệm chính sách và hệ thống phân phối nông sản – thực phẩm Thái Lan(iv) So sánh bối cảnh vận dụng chính sách của Thái Lan và Việt Nam để rút ra bài học kinh nghiệm3. Kết quả nghiên cứu3.1. Thực trạng hệ thống phân phối nông sản sạch tại thị trường Việt Nam3.1.1. Các hệ thống chính sách liên quanNhóm tác giả nghiên cứu các chính sách tác động tới hệ thống phân phối này là một nhóm các lực “Đẩy” (push) của thị trường nông sản – thực phẩm.Sơ đồ 1: Lực đẩy từ các chính sách tới hệ thống phân phối nông sản – thực phẩmNguồn: Nhóm tác giả phân tích dựa trên lý thuyết Đẩy và Kéo của Bonney và cộng sự (1999)Cụ thể các chính sách tác động tới hệ thống phân phối này như sau:(i) Ban Chỉ đạo liên ngành về Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững do Thủ tướng Chính phủ thành lập năm 2015. Ban thực hiện chức năng giúp Thủ tướng Chính phủ trong việc tổ chức, chỉ đạo, điều hành về tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững giai đoạn 2015 – 2020. Trong đó, việc làm cấp thiết là phải có một hệ thống phân phối nông sản hợp lý từ đồng ruộng đến các đại lý phân phối, hạn chế tối đa các trung gian không cần thiết. Các cơ sở kinh doanh thực phẩm sạch phải đảm bảo đủ các điều kiện về địa điểm, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, có hợp đồng cung ứng với cơ sở sản xuất đã được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện; sản phẩm sạch phải có bao bì, nhãn mác và niêm phong theo quy định.Lực “Đẩy” này đã tác động tới việc các hệ thống phân phối ưu tiên các sản phẩm đạt quy chuẩn và làm suy yếu hệ thống phân phối truyền thống tại đô thị. Từ trước, hình thức phân phối chủ yếu vẫn là truyền thống, có nghĩa là người tiêu dùng vẫn có thói quen mua hàng nông sản tại các chợ và từ người bán rong. Các chợ được phân bố tại khắp các cụm dân cư sinh sống. Chợ có thể được quy hoạch hoặc tự phát. Trên thực tế, hình thức bán rong vẫn tồn tại mạnh tại Việt Nam bởi sự thuận tiện, song xu hướng này sẽ ngày càng giảm đi vì người tiêu dùng muốn tìm đến những kênh phân phối có uy tín để mua được những sản phẩm sạch, an toàn.(ii) Đề án “Xây dựng và phát triển chuỗi cung ứng thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn” đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Quyết định số 3073/QĐ-BNN-QLCL ngày 27/12/2013 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Nắm bắt được nhu cầu người tiêu dùng, hiện nay kênh phân phối hàng nông sản an toàn của Việt Nam đã phát triển khá mạnh cả về chất lượng và quy mô, cùng với sự ra đời hàng loạt các cơ sở phân phối hiện đại như trung tâm thương mại, siêu thị, cửa hàng tiện lợi, cửa hàng phân phối nông sản an toàn và các chương trình kết nối cung cầu nông sản sạch do Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp tổ chức, bước đầu thỏa mãn nhu cầu của người dân, làm thay đổi tư duy tiêu dùng của đa số người dân. Các địa phương trong cả nước cũng đã đẩy mạnh triển khai.Lực “Đẩy” này khiến các đơn vị phân phối phát triển thành hệ thống hiện đại, gây dựng nhãn hiệu, tiếp thị người tiêu dùng thay đổi thói quen mua sắm thực phẩm. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến nay, cả nước đã có 63/63 tỉnh, thành phố xây dựng thành công 746 mô hình điểm chuỗi cung ứng nông sản an toàn với sản phẩm chủ yếu là rau, quả, chè, thịt trứng, gạo và thủy sản các loại…, trong đó có 382 chuỗi được giám sát, xác nhận sản phẩm được kiểm soát an toàn thực phẩm theo chuỗi. Theo dự báo đến năm 2020, nông sản an toàn phân phối tại các kênh phân phối hiện đại có thể chiếm trên 40% thị phần trong nước và xu thế này sẽ ngày càng tăng lên trong tương lai bởi yêu cầu ngày càng khắt khe về an toàn thực phẩm cũng như quản lý phân phối nông sản an toàn ngày càng chặt để đảm bảo sức khỏe người tiêu dùng.3.1.2. Hiện trạng các hệ thống phân phối nông sản – thực phẩm Việt Nam   Sơ đồ 2: Tổ chức kênh phân phối hiện nay tại Việt NamNguồn: Nhóm tác giả nghiên cứu, tổng hợpTrong đó:+ Kênh gián tiếp: – Kênh một cấp: Nhà sản xuất bán hàng gián tiếp cho người tiêu dùng qua một trung gian đó là nhà bán lẻ.- Kênh nhiều cấp: Gồm có kênh 2 cấp, kênh 3 cấp…+ Kênh trực tiếp:   Người sản xuất bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng qua các cửa hàng của mình, qua bưu điện hoặc bán hàng lưu động, bán tại các địa điểm khách hàng, bán hàng theo hình thức thương mại điện tử.Chi phí của kênh phân phối được biểu hiện bằng số lượng trung gian ở mỗi cấp phân phối. Như vậy, nếu càng giảm bớt các chi phí kênh trung gian thì hệ thống phân phối sản phẩm càng có hiệu quả cao vì khi đó giá sản phẩm không bị đẩy lên quá nhiều so với giá trị của nó. Tuy vậy, kênh phân phối hiệu quả hiện tại vẫn chiếm sản lượng tiêu thụ rất thấp.Sự lớn mạnh của hệ thống các siêu thị không chỉ do các lực “Đẩy” các chính sách, mà còn có lực Kéo của yêu cầu thị trường, bao gồm:(i) Yêu cầu về giá cạnh tranh: các hệ thống này này giảm bớt được các khâu trung gian, từ đó giảm về giá thành cho người tiêu dùng(ii) Yêu cầu về chất lượng minh bạch: Hoạt động của các hệ thống phân phối này đều đảm bảo tính minh bạch bởi tất cả các hàng hóa bán ra đều có thể thực hiện trên hóa đơn, giá bán được niêm yết rõ ràng, ngày sản xuất và hạn sử dụng được niêm yết trực tiếp trên bao bì sản phẩm đảm bảo tính minh bạch trên thị trường hàng hóa.(iii) Yêu cầu về nhu cầu mua sắm với dịch vụ hiện đại: Các hệ thống phân phối này đều có quy trình công nghệ hiện đại về quản lý chất lượng và vệ sinh, các doanh nghiệp bán buôn hiện đại giúp giảm tỷ lệ hao hụt hàng hóa và do đó nâng cao hiệu quả kinh doanh cho các kênh bán lẻ, cung cách phục vụ khách hàng tốt và khách hàng có thể mua cùng một lúc nhiều loại sản phẩm ở cùng một địa điểm.Kết quả của các lực Đẩy và Kéo, hệ thống siêu thị có công bố chất lượng ngày càng phát triển. Theo thống kê của Liên minh nông nghiệp Việt Nam, tỷ lệ người dân đi chợ truyền thống, chợ cóc, chợ tạm đã giảm tới 35,5% so với 5 năm trước đây. Người tiêu dùng ngày càng tìm đến các kênh phân phối nông sản an toàn để đảm bảo sức khỏe cho bản thân và gia đình.Tổng hợp tác động của lực “Kéo” có thể tóm tắt trong sơ đồ sau:  Sơ đồ 3: Lực “Kéo” của thị trường tới hệ thống phân phối nông sản, thực phẩmNguồn: Nhóm tác giả phân tích dựa trên lý thuyết Đẩy và Kéo của Bonney và cộng sự (1999)Dưới tác động của các lực Kéo và Đẩy đã phân tích như trên, Nhóm tác giả liệt kê các trường hợp (case study viết tắt cs) sau ở Việt Nam:[cs1] Hệ thống siêu thị của Liên hiệp Hợp tác xã tiêu thụ nông sản an toàn Việt Nam (UCA mart) thành lập năm 2016 với mục đích liên kết các Hợp tác xã (HTX) sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản an toàn trên toàn quốc. UCA là nơi phân phối các sản phẩm an toàn, có truy xuất nguồn gốc như rau, củ, quả và thực phẩm như thịt gà, thịt lợn, thịt bò, cá… của các hợp tác xã uy tín trên toàn quốc. 100% hợp tác xã tham gia vào chuỗi siêu thị này được cơ quan chức năng kiểm tra, đánh giá chất lượng thường xuyên, liên tục, nông sản được gắn tem truy xuất nguồn gốc điện tử. Hệ thống chịu tác động của lực Đẩy chính sách lúc thành lập nhưng sau đó đã chịu thêm tác động lực Kéo của yêu cầu thị trường khi đa dạng hóa thực phẩm.[cs2] Hệ thống siêu thị VinMart & chuỗi cửa hàng VinMart+: Đây là hệ thống siêu thị đã được bình chọn vào Top 2 nhà bán lẻ được người tiêu dùng nghĩ đến nhiều nhất và Top 10 nhà bán lẻ uy tín nhất (theo thống kê của Vietnam Report). VinMart & Vinmart+ cũng góp phần đưa VinCommerce lên vị trí thứ 19 trong top 50 thương hiệu giá trị nhất Việt Nam theo bảng xếp hạng do Brand Finance công bố trong 2 năm liên tiếp 2016, 2017. Tính đến hết ngày 31/12/2017, hệ thống bán lẻ có quy mô 65 siêu thị VinMart và hơn 1.000 cửa hàng VinMart+ tại 26 tỉnh, thành phố trên cả nước và trở thành chuỗi bán lẻ quy mô nhất Việt Nam.VinMart & VinMart+ cũng là kênh phân phối độc quyền các sản phẩm nông sản an toàn VinEco sản xuất theo công nghệ Israel hiện đại hàng đầu thế giới cung cấp đa dạng sản phẩm nông sản an toàn như rau, củ, quả, nấm tươi cao cấp, thịt và hải sản. Đây cũng là chuỗi cửa hàng tiện lợi, phân bổ giữa các khu dân cư đông đúc, mang đến sự tiện lợi cho người tiêu dùng trên khắp Việt Nam. Doanh nghiệp phân phối nông sản – thực phẩm này chịu tác động lực Kéo cao, dựa trên đòi hỏi của thị trường, bắt kịp xu thế về tiêu dùng sản phẩm đa dạng, giá thành tốt, công bố rõ nguồn gốc.[cs3] Công ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH) VinaGAP Việt Nam: Được thành lập từ năm 2010, với thương hiệu là Bác Tôm được xem là đi tiên phong trong lĩnh vực rau và thực phẩm sạch ở Hà Nội, đến nay hệ thống cửa hàng đã phát triển 23 chuỗi cửa hàng trên khắp Hà Nội. Công ty chuyên phân phối các mặt hàng nông sản – thực phẩm sạch và là địa chỉ uy tín lâu năm đối với người tiêu dùng Hà Nội. Doanh nghiệp phân phối nông sản – thực phẩm này chịu tác động lực Kéo và hướng tới nhóm tiêu dùng có nhu cầu truy xuất nguồn gốc cao hơn, yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng cao hơn. Đây là mẫu tiêu biểu cho nhiều doanh nghiệp phát triển phân phối sản phẩm nông sản – thực phẩm theo xu hướng tiêu dùng nông sản – thực phẩm cao cấp. Tuy nhiên ở các doanh nghiệp này, các tiêu chuẩn “hữu cơ”, “không biến đổi gen” mới chịu tác động của lực “Kéo” thị trường, thiếu lực “Đẩy” từ hệ thống chứng nhận, chính sách ưu đãi của Nhà nước nên minh bạch thông tin đối với người tiêu dùng còn chưa tối ưu.[cs4] Công ty TNHH một thành viên Phân phối Saigon Co.op (SCD): Là hệ thống bán lẻ uy tín đối với người tiêu dùng thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và trên toàn quốc với chuỗi siêu thị, cửa hàng Co.opmart, Co.opXtra, Co.opFood. Tính đến 12/2017, hệ thống Co.op mart có 92 siêu thị và gần 200 cửa hàng Co.opFood trên toàn quốc. Các điểm bán hàng của hệ thống Co.op đều có chứng nhận an toàn thực phẩm và đạt tiêu chuẩn VietGAP, VietGAP nhãn xanh. Để có thể cạnh tranh với thị trường bán lẻ trong nước và nước ngoài tại Việt Nam, Saigon Co.op có chiến lược phát triển mới trong đó tập trung vào ba lĩnh vực chính là: Phát triển mạng lưới, hàng hóa và logistics, xây dựng lộ trình chuyển đổi phù hợp. Cụ thể năm 2018, Saigon Co.op sẽ xây dựng mô hình kinh doanh mới trong đó có một Co.opmart phân khúc cao (Finelife), kết nối đa phương tiện với các hình thức mua sắm khác. Đẩy mạnh khai thác kinh doanh các mặt hàng hữu cơ… Tiếp tục hợp tác chặt chẽ với các nhà sản xuất uy tín để phân phối hàng hóa, thực phẩm chất lượng cao đạt chuẩn an toàn thực phẩm. Đây là một đại diện cho doanh nghiệp chịu tác động “Kéo” của thị trường qua các giai đoạn phát triển khác nhau, từ các tiêu chuẩn tuân theo lực “Đẩy” chính sách về nhãn VietGAP đến đi sâu vào yêu cầu cao hơn của thị trường và có chiến lược gây dựng thương hiệu riêng, tạo ra lực Đẩy mới, đáp ứng lực Kéo của thị trường.[cs5] Công ty Thực phẩm sạch Biggreen Việt Nam: Được thành lập từ năm 2010,công ty hoạt động trong lĩnh vực bán buôn, bán lẻ rau, quả thực phẩm sạch và đặc sản vùng miền. Đến nay Biggreen Việt Nam đã xây dựng thành công chuỗi liên kết từ sản xuất đến cung ứng rau, quả sạch, trở thành địa chỉ tin cậy của khách hàng ở thị trường Hà Nội. Biggreen Việt Nam đã xây dựng được mối liên kết với nhiều hợp tác xã, đơn vị sản xuất rau an toàn tại nhiều vùng rau lớn trên cả nước như: Mộc Châu (tỉnh Sơn La), Bắc Hà (tỉnh Lào Cai), Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng) và Đông Anh (Thành phố Hà Nội). Công ty cũng đã phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội khai trương Trung tâm Tư vấn, giới thiệu và bán nông sản thực phẩm an toàn. Các sản phẩm được trưng bày và giới thiệu tại trung tâm đều có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP hay hữu cơ, có sự liên kết tổ chức sản xuất theo chuỗi và được kiểm soát chặt chẽ trong tất cả các khâu. Đặc biệt, tất cả các sản phẩm được bày bán đều có dán tem QR Code trên bao bì để khách hàng có thể dễ dàng kiểm tra thông tin và truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Đây là mẫu kết hợp lực Đẩy chính sách và lực Kéo thị trường liên tục, với mỗi lực Kéo yêu cầu của thị trường, lại có sự phối hợp lực Đẩychính sách kịp thời hỗ trợ.Với các trường hợp nghiên cứu như trên, mặc dù đã có vận dụng lực Đẩy và Kéo của chính sách và yêu cầu thị trường, các doanh nghiệp phân phối nông sản an toàn của Việt Nam chưa phát huy được tiềm năng, cùng với việc xuất hiện ngày càng nhiều tập đoàn phân phối lớn của nước ngoài với tiềm lực mạnh và tính chuyên nghiệp cao, đã làm cho một số các doanh nghiệp phân phối Việt Nam bán lại cho các tập đoàn lớn này. Cụ thể có thể thấy:(i) Đáp ứng của lực Đẩy chính sách về hệ thống chứng nhận đáp ứng nhu cầu lực Kéo của thị trường còn yếu, đến nay chỉ có chứng nhận an toàn ở mức tối thiểu, chưa phong phú, đa dạng. Hệ thống kiểm định còn yếu kém dẫn tới niềm tin suy giảm. Nhiều hệ thống phân phối uy tín muốn đưa các mặt hàng nông sản sạch vào hệ thống bán hàng của mình với giá cả hợp lý, cạnh tranh song quy mô sản xuất các mặt hàng này hiện nay còn nhỏ lẻ, manh mún, nhiều loại nông sản chưa đáp ứng được yêu cầu về thủ tục giấy tờ đăng ký, kiểm định chất lượng, phương thức thanh toán. Một số các cơ sở sản xuất hàng nông sản mặc dù có giấy chứng nhận Vietgap hoặc cơ sở sản xuất an toàn nhưng hệ thống kiểm soát chất lượng của kênh phân phối vẫn phát hiện có tồn dư hóa chất, kháng sinh, vi khuẩn… trong thực phẩm. Chưa có chế tài đủ mạnh để răn đe các cửa hàng phân phối nông sản không đảm bảo an toàn. Lực lượng cán bộ thanh kiểm tra các cơ sở phân phối hàng nông sản còn mỏng về số lượng và kém trình độ nên nhiều vụ việc vi phạm kinh doanh an toàn thực phẩm chưa được phát hiện.(ii) Do thiếu phân tích lực Kéo cụ thể về nhu cầu, chủng loại, thời điểm, các doanh nghiệp phân phối nông sản còn bị động vì phải phụ thuộc vào mùa vụ, thời tiết, chất lượng của sản phẩm, biến động giá cả của thị trường trong và ngoài nước.(iii) Do các phân tích về thị trường còn yếu, hợp đồng số lượng lớn, ổn định chưa nhiều: Một số doanh nghiệp phân phối sản phẩm nông sản an toàn vào siêu thị còn gặp nhiều khó khăn: thời gian chờ nhập hàng vào siêu thị, chi phí vận chuyển cao do mỗi lần siêu thị nhập hàng vào với số lượng ít, việc chiết khấu cho siêu thị cao (từ 23-25% giá sản phẩm), thời gian thanh toán tiền hàng của siêu thị còn chậm so với thực tế ghi trong hợp đồng khiến các doanh nghiệp này gặp khó khăn do không có kinh phí tái đầu tư.3.2. Kinh nghiệm phát triển hệ thống phân phối nông sản sạch của Thái Lan3.2.1. Hệ thống chính sách phát triển thị trường bền vững tác động thuận lợi tới phân phối nông sản – thực phẩmTheo Ngân hàng thế giới (World Bank) (2016), nông nghiệp chiếm 12% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Thái Lan và sử dụng 32% lao động toàn quốc. Mặc dù khu vực công nghiệp Thái Lan chiếm 40% GDP song khu vực này có mối quan hệ chặt chẽ với khu vực nông nghiệp do ngành công nghiệp chế biến thực phẩm chiếm tỷ lệ cao trong khu vực công nghiệp. Khu vực dịch vụ chiếm 45% GDP, trong đó các dịch vụ vận chuyển và giao nhận thực phẩm giữa các thành phố, bán buôn và bán lẻ thực phẩm chiếm tỷ trọng cao. Năm 2015, ngành bán lẻ Thái Lan đạt 84,31 tỷ USD. Bán lẻ được chia thành khu vực thực phẩm và phi thực phẩm, trong đó bán lẻ thực phẩm chiếm 62% tổng mức bán lẻ.Để mạng lưới phân phối thực phẩm phát triển, Thái Lan đã có các chính sách đồng bộ hỗ trợ các mắt xích quan trọng trong mạng lưới phân phối như: Khuyến khích phát triển các tập đoàn thu mua nông sản và phân phối lớn có quy mô quốc gia; đảm bảo đầu ra cho các hộ nông dân; nâng cao uy tín các đơn vị kinh doanh bán lẻ, tạo niềm tin cho người tiêu dùng trong nước và khách du lịch; quản lý, chứng nhận và giám sát chất lượng, tiếp thị thương hiệu thực phẩm. Cụ thể, mạng lưới phân phối thực phẩm của Thái Lan được hỗ trợ bởi các yếu tố sau:(i) Hệ thống chứng nhận chất lượng rõ ràng, được người tiêu dùng tin cậy: Thái Lan là một trong các quốc gia Đông Nam Á đi đầu trong việc tạo ra các chứng nhận chất lượng cụ thể, phù hợp với yêu cầu quốc tế và toàn cầu hóa. Chứng nhận nông sản hữu cơ của Thái Lan tạo ra các sản phẩm có chứng nhận rõ ràng về chất lượng, giúp khẳng định thương hiệu nông sản. Cơ quan cấp chứng nhận hữu cơ nổi bật của Thái Lan là Actorganic-cert (ACT). ACT tuân theo các tiêu chuẩn và quy định của các cơ quan chứng nhận quốc tế như: tiêu chuẩn châu Âu số 1235/2008 (điều 10) có từ năm 2011, Tiêu chuẩn hữu cơ Canada của cơ quan giám sát thực phẩm Canada năm 2009. Hệ thống chứng nhận ACT có tính linh động cao khi có các hồ sơ khác nhau tùy vào sản phẩm xin cấp chứng nhận để bán ở thị trường nào giúp tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp.Theo Hiệp hội Thương mại nông sản hữu cơ Thái Lan (2011), nông nghiệp hữu cơ đã sớm được xếp vào chương trình quốc gia trọng yếu nhằm thúc đẩy thực phẩm an toàn và xuất khẩu thực phẩm của Thái Lan. Từ những năm 1980s, các hộ nông dân, tổ chức phi chính phủ đã thành lập Mạng lưới nông nghiệp thay thế (alternative Agriculture Network – AAN) nhằm củng cố các hoạt động nông nghiệp bền vững của Thái Lan. Trong gần 40 năm, các sản phẩm hữu cơ ngày càng đa dạng và được người tiêu dùng đón nhận bởi chất lượng cũng như sự an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng. Sự hỗ trợ của chính phủ Thái Lan đối với các tổ chức và hiệp hội chứng nhận chất lượng đã bắt kịp xu hướng tiêu dùng thực phẩm sạch, hạn chế hóa chất của người tiêu dùng Thái Lan và quốc tế.(ii) Đầu tư cho nghiên cứu và phát triển nông sản và tiêu thụ nông sản: Theo Jennifer Phang (2011), Thái Lan có các cơ quan nghiên cứu về gen và kỹ thuật sản xuất thực phẩm như Viện Thực phẩm quốc gia (The National Food Institute (NFI)), Vụ Dịch vụ kỹ thuật thực hiện các hệ thống an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn Thực hành sản xuất tốt (tiếng Anh là Good Manufacturing Practices, viết tắt là GMP) và Hệ thống phân tích mối nguy hại trong thực phẩm (tiếng Anh là Hazard Analysis and Critical Control Points, viết tắt là HACCP), Cơ quan phát triển nghiên cứu nông nghiệp (ARDA) phối hợp với NFI để phát triển thực phẩm chế biến và nguồn nhân lực cho ngành nông sản – thực phẩm.(iii) Chiến lược của chính phủ Thái Lan về hỗ trợ tiêu thụ nông sản và thực phẩm ổn định: Thái Lan có chiến lược nông sản quốc tế mang tên “Thái Lan – Bếp ăn của Thế giới” cho giai đoạn 2012-2016 nhằm nâng cao chất lượng thực phẩm của Thái Lan bao gồm: nâng cao khoa học công nghệ trong nông nghiệp, nâng cao kiến thức cho nông dân, tạo ra các ngành công nghiệp chế biến nông sản có giá trị gia tăng cao. Theo Tổ chức y tế Thế giới (2015), đến nay có hơn 85.000 cửa hàng thực phẩm đường phố và 50.000 nhà hàng tham gia dự án Thực phẩm sạch, hương vị ngon, được Bộ Sức khỏe cộng đồng phối hợp Tổng cục Du lịch Thái Lan và Bộ Nội vụ khởi động từ năm 1989. Chiến lược nhằm đảm bảo thực phẩm vệ sinh an toàn phục vụ du lịch và sự chủ động của các cơ quan quản lý thực phẩm địa phương. Trong chiến lược tiếp thị nông sản và thực phẩm của Thái Lan, phối hợp tiếp thị nông sản và du lịch là một nội dung được chú trọng: Tổng cục du lịch Thái Lan sử dụng hình ảnh thực phẩm Thái Lan như một sản phẩm du lịch. Chiến lược của Tổng cục là khiến người Thái Lan và khách du lịch cùng biết đến và yêu thích thực phẩm Thái, đặc biệt các thực phẩm chế biến từ nông sản địa phương. Mục tiêu của Chiến lược không chỉ là tăng thu cho ngành du lịch thông qua khách du lịch thưởng thức thực phẩm Thái mà còn nâng cao giá trị của thực phẩm Thái, gây dựng hình ảnh quốc gia. Chiến lược toàn diện Tổng cục du lịch 2018 đảm bảo lượt khách du lịch cao trong bối cảnh cạnh tranh nhằm tạo nguồn tiêu thụ cho sản phẩm nông nghiệp và phối hợp đảm bảo chất lượng nông sản, thực phẩm để khách du lịch quay trở lại.(iv) Chiến lược duy trì và nâng cao chất lượng chợ truyền thống với các doanh nghiệp siêu nhỏ bán hàng song song với chuỗi siêu thị hiện đại: Mặc dù xu hướng người tiêu dùng mua sắm tại các siêu thị tăng nhanh chóng trong thập kỷ vừa qua, Thái Lan không bỏ mặc các khu chợ truyền thống mà áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng cho cả các khu chợ và biến chợ truyền thống thành các điểm thu hút khách du lịch, giới thiệu về nông sản, thực phẩm địa phương. Việc duy trì các tiểu thương hay các doanh nghiệp siêu nhỏ kinh doanh nông sản, thực phẩm cùng với các hệ thống siêu thị tạo ra trạng thái thị trường cân bằng, ổn định, cạnh tranh lành mạnh hơn. Ngoài ra, các hệ thống siêu thị lớn hầu như là các doanh nghiệp vốn nước ngoài thì các tiểu thương và doanh nghiệp siêu nhỏ tại các chợ truyền thống là doanh nghiệp Thái Lan, việc duy trì song song cả hai hệ thống giúp duy trì được nội lực cân bằng cho các doanh nghiệp thương mại kinh doanh nông sản của Thái Lan.(v) Thương mại điện tử phát triển: Theo báo cáo Kỹ thuật số Đông Nam Á năm 2017 của tổ chức We are Social, Thái Lan có 85% dân số sử dụng internet ít nhất một lần một ngày. Đây là cơ sở để tiếp thị thông tin nông sản, thực phẩm và phân phối bán buôn và bán lẻ cùng phát triển.(vi) Từ khi xây dựng ngành nông nghiệp hiện đại, năng suất cao, Thái Lan chú trọng và ưu tiên phát triển các tập đoàn lớn, có khả năng thu mua trên quy mô vùng hoặc quốc gia và đảm bảo đầu ra ổn định. Theo Diễn đàn lãnh đạo kinh doanh (2018), Kinh nghiệm của tập đoàn Central Group là làm việc chặt chẽ với các hộ nông dân để có kế hoạch thu mua nông sản thường xuyên theo giá thị trường phân phối trong hệ thống Big C. Kế hoạch thu mua giúp các hộ nông dân chú trọng nâng cao chất lượng nông sản hoặc xem xét khả năng mở rộng sản xuất ổn định.3.2.2. Tổng hợp mô hình hệ thống phân phối trong thị trường bền vững từ bài học kinh nghiệm của Thái Lan:Từ kinh nghiệm của Thái Lan trong việc tạo ra hệ thống chất lượng sản xuất, đảm bảo đầu ra, tiếp thị hình ảnh, phối hợp du lịch, chứng nhận chất lượng, có thể thấy được việc phân phối nông sản không đơn thuần là phân phối riêng lẻ. Khâu phân phối này cần đặt trong chiến lược tổng thể để phân phối được thông suốt và bền vững. Kinh nghiệm của Thái Lan cho thấy một lực “Đẩy” bao quát, đồng bộ trên mọi phương diện chiến lược dài hạn, chính sách phát triển, tận dụng tối đa mỗi lực “Kéo” của thị trường. Nhóm tác giả xây dựng mô hình phân phối nông sản an toàn như sau: Sơ đồ 4: Mô hình phân phối nông sản an toànNguồn: Nhóm tác giả nghiên cứu tổng hợp mô hình hệ thống phân phối nông sản – thực phẩm của Thái LanPhân tích sơ đồ trên, nhóm tác giả thấy các yếu tố trên có quan hệ phụ thuộc như sau:- Nếu hệ thống chứng chỉ, kiểm định không nghiêm ngặt, không tạo niềm tin cho người tiêu dùng thì mắt xích tiếp thị sản phẩm không hiệu quả. Ngược lại, nếu chỉ đảm bảo chứng chỉ và chất lượng cho sản phẩm nhưng công tác tiếp thị không tốt thì người tiêu dùng không biết đến và không phân biệt được chất lượng sản phẩm.- Tổ chức đội ngũ tiếp thị sản phẩm rộng rãi giới thiệu những sản phẩm nông sản an toàn, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng thay vì những thực phẩm bẩn, không rõ nguồn gốc tràn lan trên thị trường, dần dần xây dựng uy tín thương hiệu của mình trên thị trường hàng nông sản một cách bền vững.- Có chiến lược thu hút khách du lịch và người tiêu dùng, đảm bảo được đầu ra ổn định mới có thể ký hợp đồng dài hạn với các doanh nghiệp bán lẻ.- Hợp đồng đầu ra bền vững mới có thể xây dựng hệ thống thu mua bền vững và ngược lại.- Hệ thống thu mua bền vững, có doanh số ổn định, đảm bảo chất lượng sản phẩm mới đủ điều kiện được cấp chứng chỉ.4. Một số khuyến nghị và giải pháp thúc đẩy phát triển kênh phân phối nông sản an toàn Việt NamTừ các phân tích hiện trạng và kinh nghiệm Thái Lan, nhóm tác giả đưa ra các khuyến nghị sau cho Việt Nam:- Xây dựng cơ quan nghiên cứu thông tin thị trường nông sản – thực phẩm cho doanh nghiệp;- Có chính sách khuyến khích hình thành các đơn vị chứng nhận độc lập phù hợp yêu cầu của thị trường;- Có chiến lược dài hạn xây dựng thị trường tiêu thị nông sản – thực phẩm trong nước bền vững, thu hút các nhóm tiêu dùng sản phẩm nhập khẩu và khách du lịch sang sử dụng nông sản – thực phẩm nội địa được chứng nhận chất lượng cao;- Thúc đẩy chính sách đầu tư hạ tầng, sử dụng đất và hỗ trợ về vốn, chính sách thuế nhằm phát triển các mô hình sản xuất quy mô lớn gắn với thị trường tiêu thụ trong nước cũng như xuất khẩu công nghệ cao, tạo ra các hợp đồng lớn và dài hạn giúp ổn định các vùng sản xuất chất lượng cao;- Rà soát thường xuyên phối hợp giữa ba Bộ có liên quan, tránh chồng chéo trong quản lý và giám.Tăng cường vai trò, trách nhiệm của chính quyền các cấp trong công tác quản lý ATTP trên từng địa bàn và phối hợp tốt với các đoàn thể chính trị, xã hội, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp trong công tác tuyên truyền, vận động, giám sát để đảm bảo ATTP. Nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả, tính răn đe trong công tác thanh, kiểm tra ATTP để đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng, người sản xuất và kinh doanh chân chính cũng như bảo vệ uy tín của nông sản Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế.5. Kết luậnHệ thống phân phối nông sản – thực phẩm sạch là một đề tài quan trọng, nghiên cứu vấn đề thiết thực về thị trường nông sản – thực phẩm hiện nay của Việt Nam, với vị thế một quốc gia đang phát triển, có tiềm lực về nông nghiệp và thị trường rộng lớn đòi hỏi về chất lượng ngày càng cao. Nhóm tác giả dựa trên các phân tích, đánh giá về hiện trạng hệ thống phân phối nông sản an toàn của Việt Nam và bài học kinh nghiệm của Thái Lan, từ đó rút ra được các luận điểm nghiên cứu quan trọng: Một là, hệ thống phân phối nông sản – thực phẩm sạch, an toàn của Việt Nam còn manh mún, nhỏ lẻ, chủ yếu quy mô hộ gia đình và phần lớn các doanh nghiệp nhỏ, thiếu về vốn, kỹ thuật và chiến lược dài hạn. Hai là, hệ thống phân phối nông sản – thực phẩm còn chưa nằm trong một mạng lưới kết nối các đơn vị chứng nhận có tầm quốc tế, người tiêu dùng, người sản xuất, các kênh bán buôn và bán lẻ. Sự thiếu kết nối này tạo ra sự bị động cho nhà sản xuất và các doanh nghiệp phân phối cũng như người tiêu dùng khi sản xuất không dựa trên thông tin thị trường và đầu ra không ổn định.Nhóm tác giả phân tích các bài học kinh nghiệm của Thái Lan do đặc điểm tương đồng về lợi thế phát triển nông nghiệp của hai quốc gia cũng như sự thành công nhất định mà Thái Lan đã đạt được trong việc trở thành thương hiệu Bếp ăn của thế giới. Trong các bài học kinh nghiệm, Việt Nam nên ưu tiên tham khảo các chính sách có khả năng áp dụng hiệu quả nhất. Một là, khuyến khích hình thành các đơn vị chứng nhận độc lập có tầm quốc tế và hỗ trợ kết nối đơn vị chứng nhận với doanh nghiệp phân phối nông sản – thực phẩm để gây dựng niềm tin đối với người tiêu dùng và xây dựng thương hiệu dài hạn, đem lại giá trị gia tăng cao. Hai là, có chiến lược dài hạn phát triển thị trường ổn định thông qua quảng bá hình ảnh nông nghiệp quốc gia, kết nối nông sản – thực phẩm và du lịch để tạo đầu ra ổn định cho các doanh nghiệp phân phối, nhờ đó có thể ký được hợp đồng dài hạn bền vững về số lượng và chất lượng. Trong tương lai, chủ đề nghiên cứu này có thể phát triển thêm về mô hình kết hợp sản xuất và phân phối nông sản – thực phẩm từ kinh nghiệm quốc tế của các quốc gia có trình độ khoa học kỹ thuật cao về sản xuất và phân phối nông sản – thực phẩm an toàn.

Làm thế nào để quán cà phê thu hút nhiều khách hàng ?

  •  Đằng sau mỗi nhà hàng hay quán cà phê mới đều là một giấc mơ về thực phẩm và dịch vụ đa dạng và có được lợi nhuận trong tương lai. Kinh doanh trong những ngành nghề này chưa bao giờ dễ dàng. Hầu hết các nhà hàng, quán cà phê mới đều gặp thất bại trong vòng hai năm đầu tiên. Lý do không phải là do thực phẩm hay dịch vụ nghèo nàn mà là ở cách họ khiến những người xung quanh biết đến. Bạn tham khảo thêm bài viết dưới đây để có thêm kinh nghiệm phát triển quán cà phê hay nhà hàng của mình nhé

Làm thế nào để marketing cho một quán cafe mới?

 Marketing không khó. Nó chưa chắc đã tốn nhiều tiền so với việc đầu tư vào cơ sở ban đầu. Với mục đích tìm hiểu thị trường xung quanh bạn, vạch ra chiến lược tiếp thị đơn giản và có chút kỹ thuật. Bạn có thể tham khảo 10 chiến lược Marketing được liệt kê dưới đây.

1. Vị trí thực sự quan trọng

Làm sao để khách hàng dễ dàng trông thấy nhà hàng của bạn là một điều cực kỳ quan trọng trong quá trình kinh doanh. Tất cả là ở vị trí.

Nó có thể nằm ở giữa trung tâm thành phố hoặc nằm ở cuối một con đường nhỏ, miễn sao nó càng được nhiều người biết đến càng tốt. Điều đó đảm bảo rằng mọi người biết đến sự tồn tại của cửa hàng bạn và cơ hội kinh doanh sẽ lớn hơn gấp nhiều lần.

Bước đầu tiên khi bạn mới mở nhà hàng, quán cà phê. Bạn cần mời mọi người đến bằng những tờ quảng cáo màu sắc và đừng có hỏi làm sao để có thể phát những tờ quảng cáo đó đến tay mọi người hay đi ra ngoài đường như những kẻ tiếp thị lố bịch. Hãy nhờ sự giúp đỡ từ phía những người thân quen. Họ sẽ quảng cáo giúp bạn. Sau đó khi khách hàng đã nhận được thông tin. Việc tiếp theo là kiểm tra xem các bảng chỉ dẫn, hướng đi đến nhà hàng của bạn nếu nó chẳng may không có được một vị trí như mong muốn.

2. Luôn chuẩn bị sẵn thật nhiều tờ rơi

Bạn cần phải làm cho mọi người biết rằng cửa hàng của bạn đã và đang mở cửa. Vấn đề là làm thế nào là làm thế nào để phát đi những thông điệp đó? 10.000 tờ rơi sẽ không phải con số quá lớn đối với lượng người dân sống trong khu vực bạn kinh doanh. Bạn có thể sử dụng hòm thư địa phương kèm một lời đề nghị hấp dẫn như một chai rượu vang hay đồ uống miễn phí cho một bữa tối cuối tuần.

Nếu bạn quen biết với những khách sạn, nhà nghỉ địa phương hay những khu vui chơi. Bạn có thể thỏa thuận với họ cho đặt lại những tờ rơi tại quầy với những ưu đãi liên quan. Chẳng hạn như: Những người đã đặt phòng tại khách sạn nọ sẽ được khuyến mại 30% cho mọi loại đồ uống tất cả các ngày trong tuần,…

3. Thỉnh thoảng hãy cung cấp những bữa ăn miễn phí

Những khách hàng thân quen hay ghé qua cửa hàng của bạn thực sự đáng trân trọng, bởi chính họ giúp bạn duy trì hoạt động kinh doanh.

Đừng ngại ngần trao cho họ những bữa tráng miệng hay chiếc bánh ngọt miễn phí. Nó thực sự không đáng nhiều tiền nhưng đối với họ, thực sự có ý nghĩa về tinh thần. Họ sẽ mang những câu chuyện tốt đẹp như thế, về cửa hàng của bạn kể cho người khác. Chẳng phải bạn đã được tiếp thị miễn phí rồi sao.

Đồng thời, bạn cũng có được những khách hàng trung thành nhiều hơn.

4. Quan hệ công chúng là cách tiếp thị tốt với chi phí thấp cho cửa hàng của bạn

Bạn có thể gửi thông cáo báo chí cho tờ báo địa phương và đài phát thanh chạy hằng ngày. Một số đó sẽ thu hút sự chú ý của nhiều sự kiện. Tôi đang đề cập đến những sự kiện cung cấp sản phẩm miễn phí để làm mục tiêu cho báo chí.

Một khi bạn được nhắc đến thường xuyên trên các trang báo mạng hay mạng xã hội thì chẳng có lý do gì người khác không chú ý đến cửa hàng bạn.

5. Dịch vụ khách hàng là điều cốt lõi

Một khi mọi người biết đến cửa hàng của bạn nhiều hơn. Họ sẽ muốn ghé thử. Hãy đảm bảo rằng mọi dịch vụ đều được chuẩn bị tốt nhất có thể. Nó không trực tiếp quảng cáo giúp bạn nhưng nó sẽ gián tiếp tác động đến thị hiếu của mọi người, giúp họ mạnh dạn chia sẻ với những người khác. Một địa chỉ uy tín mà bất cứ ai cũng muốn giới thiệu hay đưa bạn bè, người thân của mình tới.

Có câu nói rằng: “Đừng tiếc người phụ nữ đẹp một bông hoa, cũng như đừng ngại ngần thể hiện tình cảm của mình dành cho khách hàng”.

Bạn là một chủ nhà và điều bạn cần làm là tỏ ra hiếu khách với những vị khách của mình. Một vài món quà nhỏ có thể hữu ích trong trường hợp này.

6. Khuyến mại vào buổi tối sẽ thu hút sự quan tâm của mọi người nhiều hơn

Cung cấp những bữa tối đặc biệt theo những chủ đề nhất định hay một sự kiện uống thử những loại đồ uống mới.

Khách hàng rất thích tham gia những bữa tiệc nhỏ có chủ đề rõ ràng bởi họ biết thể nào cũng có gì đó từ nhà hàng dành cho mình. Và thực sự bạn không nên làm những “thượng đế” này thất vọng.

7. Sử dụng thẻ khách hàng để biết họ nghĩ gì

Khách hàng nhiều khi chẳng muốn gây sự chú ý. Bạn hãy tế nhị gửi đến họ những “comment” bằng những thẻ khách hàng bằng nhựa cứng.

Một chiếc thẻ ghi rõ email, số điện thoại của khách hàng và đừng quên ghi nhớ ngày sinh nhật của họ. Cứ 3 tuần một lần, gửi đến những khách hàng thân cận những mã giảm giá hay tới dự những sự kiện miễn phí.

Một khi bạn tạo sự tin tưởng đối với khách hàng, họ sẽ sẵn sàng chia sẻ những gì mình nghĩ với bạn. Việc chiều lòng khách hàng sẽ không khó như bạn nghĩ.

8. E-marketing không chỉ là xây dựng một trang web tuyệt vời

Chắc chắn bạn cần một trang web tốt để thu hút sự chú ý của mọi người cũng như đây là nơi để bạn công bố menu, giá cả, điều khoản thanh toán và giờ mở cửa.

Tiếp thị online cũng cần phải có những chiến lược tốt chứ không chỉ có một nền tảng website tốt. Đưa những thông tin gì lên website, vào khoảng thời gian nào là cực kỳ quan trọng.

Đa phần, vào thời đại công nghệ thông tin như hiện giờ, không khó để E-marketing phát huy hiệu quả tối đa.

9. Đối với tin tức, thời gian là yếu tố quyết định tất cả

Cung cấp cho khách hàng những thông tin về nhà hàng tất nhiên cần thiết, đặc biệt với những khách hàng mới. Tuy nhiên, không phải thông tin nào bạn cũng mang lên mạng để “rao vặt” nó. Tính thời vụ vô cùng quan trọng. Bạn cần nắm bắt tốt xu hướng hiện tại, xem xét những đối thủ cạnh tranh của mình để có được quyết định đúng đắn.

Chẳng hạn như bạn muốn đề cập đến một khuyến mại mới nhất của cửa hàng mình. Hãy biết thời điểm nào là thích hợp. Sớm hay muộn cũng đều không có lợi cho bạn trong trường hợp này, bởi lẽ, một khi thông tin đã được công bố, bạn không thể nào rút lại được đâu.

Bởi vậy, hãy chuẩn bị kỹ càng mọi điều cần thiết và chờ đến ngày đó thôi.

10. Hãy bắt đầu mỗi ngày bằng một nụ cười

Ngoài những sản phẩm và dịch vụ tốt bạn nhất thiết phải mang đến cho khách hàng. Hãy chào đón, phục vụ và tạm biệt khách hàng bằng những nụ cười mỗi ngày. Tôi không dám chắc là nó có tác dụng rõ rệt để bạn nhìn thấy được ngay trước đó nhưng nếu bạn làm được điều này thì mọi thứ tại cửa hàng bạn đã quá trọn vẹn. Điều tôi muốn nói đến là thái độ phục vụ của nhân viên.

Bạn gửi đến khách hàng tất cả những gì tuyệt vời nhất thì họ cũng tặng lại bạn một món quà vô giá là những lời khen ngợi với người khác. Marketing truyền miệng luôn là một hình thức quảng cáo hữu dụng nhất cho bất cứ nhà hàng nào nhưng không phải ai cũng có được. Nó miễn phí nhưng cực kỳ hiệu quả vì chẳng gì hơn bằng những lời giới thiệu tốt đẹp từ khách hàng thay vì bạn tự giới thiệu chính mình đối với mọi người.

Làm thế nào để marketing cho một quán cafe mới?

 Đằng sau mỗi nhà hàng hay quán cà phê mới đều là một giấc mơ về thực phẩm và dịch vụ đa dạng và có được lợi nhuận trong tương lai. Kinh doanh trong những ngành nghề này chưa bao giờ dễ dàng. Hầu hết các nhà hàng, quán cà phê mới đều gặp thất bại trong vòng hai năm đầu tiên. Lý do không phải là do thực phẩm hay dịch vụ nghèo nàn mà là ở cách họ khiến những người xung quanh biết đến.

Làm thế nào để marketing cho một quán cafe mới?

Đó gọi là marketing. Marketing không khó. Nó chưa chắc đã tốn nhiều tiền so với việc đầu tư vào cơ sở ban đầu. Với mục đích tìm hiểu thị trường xung quanh bạn, vạch ra chiến lược tiếp thị đơn giản và có chút kỹ thuật. Bạn có thể tham khảo 10 chiến lược Marketing được liệt kê dưới đây.

1. Vị trí thực sự quan trọng

Làm sao để khách hàng dễ dàng trông thấy nhà hàng của bạn là một điều cực kỳ quan trọng trong quá trình kinh doanh. Tất cả là ở vị trí.

Nó có thể nằm ở giữa trung tâm thành phố hoặc nằm ở cuối một con đường nhỏ, miễn sao nó càng được nhiều người biết đến càng tốt. Điều đó đảm bảo rằng mọi người biết đến sự tồn tại của cửa hàng bạn và cơ hội kinh doanh sẽ lớn hơn gấp nhiều lần.

Bước đầu tiên khi bạn mới mở nhà hàng, quán cà phê. Bạn cần mời mọi người đến bằng những tờ quảng cáo màu sắc và đừng có hỏi làm sao để có thể phát những tờ quảng cáo đó đến tay mọi người hay đi ra ngoài đường như những kẻ tiếp thị lố bịch. Hãy nhờ sự giúp đỡ từ phía những người thân quen. Họ sẽ quảng cáo giúp bạn. Sau đó khi khách hàng đã nhận được thông tin. Việc tiếp theo là kiểm tra xem các bảng chỉ dẫn, hướng đi đến nhà hàng của bạn nếu nó chẳng may không có được một vị trí như mong muốn.

2. Luôn chuẩn bị sẵn thật nhiều tờ rơi

to-roi

Bạn cần phải làm cho mọi người biết rằng cửa hàng của bạn đã và đang mở cửa. Vấn đề là làm thế nào là làm thế nào để phát đi những thông điệp đó? 10.000 tờ rơi sẽ không phải con số quá lớn đối với lượng người dân sống trong khu vực bạn kinh doanh. Bạn có thể sử dụng hòm thư địa phương kèm một lời đề nghị hấp dẫn như một chai rượu vang hay đồ uống miễn phí cho một bữa tối cuối tuần.

Nếu bạn quen biết với những khách sạn, nhà nghỉ địa phương hay những khu vui chơi. Bạn có thể thỏa thuận với họ cho đặt lại những tờ rơi tại quầy với những ưu đãi liên quan. Chẳng hạn như: Những người đã đặt phòng tại khách sạn nọ sẽ được khuyến mại 30% cho mọi loại đồ uống tất cả các ngày trong tuần,…

3. Thỉnh thoảng hãy cung cấp những bữa ăn miễn phí

com-bo

Những khách hàng thân quen hay ghé qua cửa hàng của bạn thực sự đáng trân trọng, bởi chính họ giúp bạn duy trì hoạt động kinh doanh.

Đừng ngại ngần trao cho họ những bữa tráng miệng hay chiếc bánh ngọt miễn phí. Nó thực sự không đáng nhiều tiền nhưng đối với họ, thực sự có ý nghĩa về tinh thần. Họ sẽ mang những câu chuyện tốt đẹp như thế, về cửa hàng của bạn kể cho người khác. Chẳng phải bạn đã được tiếp thị miễn phí rồi sao.

Đồng thời, bạn cũng có được những khách hàng trung thành nhiều hơn.

4. Quan hệ công chúng là cách tiếp thị tốt với chi phí thấp cho cửa hàng của bạn

Bạn có thể gửi thông cáo báo chí cho tờ báo địa phương và đài phát thanh chạy hằng ngày. Một số đó sẽ thu hút sự chú ý của nhiều sự kiện. Tôi đang đề cập đến những sự kiện cung cấp sản phẩm miễn phí để làm mục tiêu cho báo chí.

Một khi bạn được nhắc đến thường xuyên trên các trang báo mạng hay mạng xã hội thì chẳng có lý do gì người khác không chú ý đến cửa hàng bạn.

5. Dịch vụ khách hàng là điều cốt lõi

Một khi mọi người biết đến cửa hàng của bạn nhiều hơn. Họ sẽ muốn ghé thử. Hãy đảm bảo rằng mọi dịch vụ đều được chuẩn bị tốt nhất có thể. Nó không trực tiếp quảng cáo giúp bạn nhưng nó sẽ gián tiếp tác động đến thị hiếu của mọi người, giúp họ mạnh dạn chia sẻ với những người khác. Một địa chỉ uy tín mà bất cứ ai cũng muốn giới thiệu hay đưa bạn bè, người thân của mình tới.

Có câu nói rằng: “Đừng tiếc người phụ nữ đẹp một bông hoa, cũng như đừng ngại ngần thể hiện tình cảm của mình dành cho khách hàng”.

Bạn là một chủ nhà và điều bạn cần làm là tỏ ra hiếu khách với những vị khách của mình. Một vài món quà nhỏ có thể hữu ích trong trường hợp này.

6. Khuyến mại vào buổi tối sẽ thu hút sự quan tâm của mọi người nhiều hơn

Cung cấp những bữa tối đặc biệt theo những chủ đề nhất định hay một sự kiện uống thử những loại đồ uống mới.

Khách hàng rất thích tham gia những bữa tiệc nhỏ có chủ đề rõ ràng bởi họ biết thể nào cũng có gì đó từ nhà hàng dành cho mình. Và thực sự bạn không nên làm những “thượng đế” này thất vọng.

7. Sử dụng thẻ khách hàng để biết họ nghĩ gì

Khách hàng nhiều khi chẳng muốn gây sự chú ý. Bạn hãy tế nhị gửi đến họ những “comment” bằng những thẻ khách hàng bằng nhựa cứng.

Một chiếc thẻ ghi rõ email, số điện thoại của khách hàng và đừng quên ghi nhớ ngày sinh nhật của họ. Cứ 3 tuần một lần, gửi đến những khách hàng thân cận những mã giảm giá hay tới dự những sự kiện miễn phí.

Một khi bạn tạo sự tin tưởng đối với khách hàng, họ sẽ sẵn sàng chia sẻ những gì mình nghĩ với bạn. Việc chiều lòng khách hàng sẽ không khó như bạn nghĩ.

8. E-marketing không chỉ là xây dựng một trang web tuyệt vời

Chắc chắn bạn cần một trang web tốt để thu hút sự chú ý của mọi người cũng như đây là nơi để bạn công bố menu, giá cả, điều khoản thanh toán và giờ mở cửa.

Tiếp thị online cũng cần phải có những chiến lược tốt chứ không chỉ có một nền tảng website tốt. Đưa những thông tin gì lên website, vào khoảng thời gian nào là cực kỳ quan trọng.

Đa phần, vào thời đại công nghệ thông tin như hiện giờ, không khó để E-marketing phát huy hiệu quả tối đa.

9. Đối với tin tức, thời gian là yếu tố quyết định tất cả

Cung cấp cho khách hàng những thông tin về nhà hàng tất nhiên cần thiết, đặc biệt với những khách hàng mới. Tuy nhiên, không phải thông tin nào bạn cũng mang lên mạng để “rao vặt” nó. Tính thời vụ vô cùng quan trọng. Bạn cần nắm bắt tốt xu hướng hiện tại, xem xét những đối thủ cạnh tranh của mình để có được quyết định đúng đắn.

Chẳng hạn như bạn muốn đề cập đến một khuyến mại mới nhất của cửa hàng mình. Hãy biết thời điểm nào là thích hợp. Sớm hay muộn cũng đều không có lợi cho bạn trong trường hợp này, bởi lẽ, một khi thông tin đã được công bố, bạn không thể nào rút lại được đâu.

Bởi vậy, hãy chuẩn bị kỹ càng mọi điều cần thiết và chờ đến ngày đó thôi.

10. Hãy bắt đầu mỗi ngày bằng một nụ cười

Ngoài những sản phẩm và dịch vụ tốt bạn nhất thiết phải mang đến cho khách hàng. Hãy chào đón, phục vụ và tạm biệt khách hàng bằng những nụ cười mỗi ngày. Tôi không dám chắc là nó có tác dụng rõ rệt để bạn nhìn thấy được ngay trươc đó nhưng nếu bạn làm được điều này thì mọi thứ tại cửa hàng bạn đã quá trọn vẹn. Điều tôi muốn nói đến là thái độ phục vụ của nhân viên.

Bạn gửi đến khách hàng tất cả những gì tuyệt vời nhất thì họ cũng tặng lại bạn một món quà vô giá là những lời khen ngợi với người khác. Marketing truyền miệng luôn là một hình thức quảng cáo hữu dụng nhất cho bất cứ nhà hàng nào nhưng không phải ai cũng có được. Nó miễn phí nhưng cực kỳ hiệu quả vì chẳng gì hơn bằng những lời giới thiệu tốt đẹp từ khách hàng thay vì bạn tự giới thiệu chính mình đối với mọi người.

Nguồn: Sưu Tầm

Kinh nghiệm khởi nghiệp: Chiến lược kinh doanh cho startup B2B

Chuyên gia tư vấn chiến lược bán hàng chia sẻ kinh nghiệm xây dựng chiến lược kinh doanh B2B theo hướng tập trung dành cho công ty khởi nghiệp.

Chia sẻ với Tech In Asia, Reed cho biết, một trong những sai lầm chiến lược phổ biến của các công ty khởi nghiệp kinh doanh hình thức B2B chính là tiếp cận khách hàng trên diện rộng, với một nguồn lực hạn chế. Khi không thành công, các startup thậm chí còn mở rộng mức độ quảng bá nhiều hơn, mà không nhận ra rằng tiếp cận số đông đồng nghĩa không ai cả.

Dưới đây là những chia sẻ về xây dựng chiến lược kinh doanh B2B tập trung từ chính kinh nghiệm của Patricia Reed.

Tầm quan trọng của chiến lược mục tiêu

Gần đây, tôi có dịp trò chuyện với nhà sáng lập một công ty Singapore đang có ý định mở rộng ra khu vực Đông Nam Á. Dù đã cố gắng thu hẹp đối tượng mục tiêu, song 5 quốc gia với 5 nền văn hóa khác nhau vẫn là một khoanh vùng khá rộng cho chiến lược kinh doanh của công ty này.

Vì vậy, tôi đã tư vấn để chủ doanh nghiệp này chọn ra câu chuyện thành công riêng ở mỗi quốc gia, và tiến hành tiếp cận chỉ một quốc gia mỗi lúc.

Sau nhiều năm tư vấn, tôi nhận ra những doanh nghiệp B2B nào chỉ muốn giới thiệu chung chung về mình mà không thực sự nghiên cứu sâu thị trường, khoanh vùng mục tiêu, tìm ra câu chuyện cụ thể và gợi mở cho đối tác tiếp tục trò chuyện thì thường thất bại. Họ đã nỗ lực làm rất nhiều, nhưng đến cuối cùng chẳng chạm được doanh nghiệp nào cả.

Thay vì dàn trải, hãy tập trung biến câu chuyện của bạn trở nên thú vị nhất có thể. Bên cạnh các con số minh họa, hãy kể về một trường hợp thất bại hoặc thành công điển hình có thể khắc họa được năng lực công ty bạn.

Vài năm trước, khi tôi đề xuất cho sếp của mình ở văn phòng châu Âu về một cơ hội mới vừa xuất hiện, ngoài phân khúc mục tiêu của chúng tôi, sếp không đồng thuận. Lúc đó, câu chuyện của chúng tôi đã diễn ra thế này:

– Vậy tôi nên từ chối AM (một đối tác tiềm năng của công ty – ND) phải không?

– Không.

– Vậy là tôi sẽ trả lời đồng ý?

– Không. Chúng ta không từ chối, chỉ là chưa phải lúc để hợp tác. Hãy tìm ra cách để nói với họ điều đó.

Nguyên nhân sếp tôi không muốn “chớp” lấy cơ hội khi đó là vì công ty cần tập trung nguồn lực đang hạn chế cho phân khúc mục tiêu đã xác định trước. Ông muốn đội ngũ nhân viên tập trung tối ưu hóa, thu thập kinh nghiệm và tạo dựng uy tín của công ty trong phân khúc mục tiêu này. Thay vì công ty phải phân tán nguồn lực mỏng ra diện rộng.

Để về đích sớm, tất cả mái chèo nên xuôi theo một hướng. Đó là bài học lớn đối với tôi.

Hãy khoanh vùng, hãy cụ thể

Những ý tưởng được xây dựng trên nền tảng câu chuyện chi tiết sẽ khuyến khích các khách hàng doanh nghiệp tiềm năng tham gia vào cuộc thảo luận của bạn. Vì vậy, hãy dành thời gian nghiên cứu sâu một phân khúc để tìm thấy câu chuyện cụ thể thu hút đối tác, thay vì chỉ quẩn quanh quảng bá cho những lời hứa đẹp nhưng không thực tế.

Kế hoạch sẽ hiệu quả nếu bạn tập trung vào giải pháp cho một nhóm khách hàng cụ thể. Vấn đề lựa chọn nên liên quan đến một khía cạnh nổi bật trong ngành công nghiệp đang tiếp cận. Từ đó, bạn khoanh vùng được các công ty có thể quan tâm đến giải pháp của bạn. Sau đó, hãy bắt đầu lên kế hoạch tiếp cận họ.

Ví dụ, khi công ty chúng tôi lần đầu tiên tiếp cận thị trường châu Á, tôi cần phải xác định đâu là những vấn đề liên quan đến khu vực này. Những vấn đề rất có thể khác xa so với bối cảnh ngân hàng ở London hay Mỹ. May mắn thay, 18/20 ngân hàng hàng đầu của thế giới là khách hàng của công ty chúng tôi. Vì vậy, tôi quyết định tìm đến những chi nhánh địa phương của các ngân hàng này.

Không ngạc nhiên khi các chi nhánh địa phương không quan tâm nhiều đến những vấn đề của các ngân hàng toàn cầu. Vì vậy, chúng tôi đã thu hẹp lại mức độ tìm hiểu để chỉ tập trung vào một chủ đề liên quan trực tiếp đến khách hàng mục tiêu. Tiếp theo, chúng tôi bắt đầu xây dựng mối quan hệ đối tác chiến lược để tiếp cận khách hàng mục tiêu.

Một mặt, hướng tiếp cận này giúp chúng tôi ra quyết định hành động chính xác và chắc chắn. Mặt khác, các khách hàng có thể biết đến nhau.

Nếu chúng ta làm tốt chuyên môn của mình, họ sẽ sẵn sàng để giới thiệu bạn với doanh nghiệp khác hoặc ít nhất sẽ kể về bạn như một câu chuyện hợp tác hiệu quả.

Nói cách khác, hãy tưởng tượng bạn đang có nguồn lực chỉ bằng một que diêm và muốn thắp sáng 1.000 ngọn nến. Liệu bạn có thể dùng một que diêm đó để thắp sáng tất cả các ngọn nến không? Dĩ nhiên là không! Chiến lược tốt nhất là sử dụng que diêm đó để thắp sáng ngọn nến đầu tiên. Sau đó dùng ngọn nến ban đầu để thắp sáng các ngọn nến tiếp theo.

Que diêm tượng trưng cho nguồn lực kinh doanh của bạn – luôn có hạn. Nhưng nếu lập chiến lược thông minh và tập trung, đi cùng sự kiên trì, bạn có thể đạt được kết quả vượt trội so với nguồn lực giới hạn đầu tư vào.

HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÂN PHỐI NÔNG SẢN: CẦU NỐI GIỮA SẢN XUẤT VÀ TIÊU DÙNG

Một số nông sản Việt hiện đang đứng vị trí hàng đầu thế giới về sản lượng và kim ngạch xuất khẩu có thể kể đến như: gạo, thủy sản, cà phê, hồ tiêu, hạt điều… Bên cạnh đó, các nông sản thiết yếu như: rau, củ, quả, thực phẩm tươi sống có khả năng cung ứng với khối lượng lớn và chất lượng khá ổn định. Tuy nhiên, hệ thống phân phối hàng nông sản kể cả tiêu thụ nội địa và xuất khẩu đang tồn tại nhiều bất cập.

Gian hàng cà phê Lion thuộc tập đoàn RAINBOW tại Thái Lan
Theo các chuyên gia kinh tế,  hệ thống phân phối nông sản Việt hiện tồn tại quá nhiều khâu trung gian.Trong ảnh: Người tiêu dùng chọn mua nông sản tại Siêu thị Co.op mart 

Mua đứt, bán đoạn

Ở thị trường nội địa, nhà sản xuất luôn phải đối mặt với tình trạng “được mùa, mất giá”; nhà phân phối bị động vì hàng hóa cung ứng lệ thuộc vào mùa vụ, thời tiết. Về phía người tiêu dùng phải chi trả quá cao so với giá gốc trong khi hàng nông sản thiếu sự kiểm soát chất lượng. Đối với hệ thống phân phối hàng nông sản xuất khẩu, tình hình “mua đứt, bán đoạn” luôn diễn ra, các tác nhân trong chuỗi sản xuất hầu như không hề biết sản phẩm của mình sẽ đi đâu, về đâu.

Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nói trên là do kênh phân phối nông sản hiện nay có quá nhiều tác nhân và thiếu liên kết với nhau. Theo ông Trần Thế Như Hiệp, Viện Kinh tế-Xã hội TP Cần Thơ, rau an toàn trên địa bàn TP Cần Thơ được phân phối ra thị trường thông qua 3 kênh chính. Thứ nhất, nông dân – người thu gom – thương lái – người bán sỉ (vựa) – người bán lẻ – siêu thị – người tiêu dùng. Đây là kênh phân phối phổ biến nhất với 78,2% lượng rau an toàn được bán ra và có đầy đủ các tác nhân cùng tham gia. Thứ 2 là nông dân – thương lái -người bán lẻ – người tiêu dùng, chiếm khoảng 17,5% lượng rau. Thứ 3, một số ít nông dân bán trực tiếp rau an toàn cho người bán lẻ và không thông qua các khâu trung gian khác, chỉ chiếm 4,3% lượng rau. “Việc gia tăng các tác nhân trung gian trong kênh phân phối rau an toàn là nguyên nhân khiến chi phí marketing của kênh phân phối tăng lên, kéo theo giá trị gia tăng của toàn chuỗi cũng tăng. Đáng lưu tâm là sự gia tăng giá trị của chuỗi hoàn toàn là chi phí marketing không có bất cứ sự chuyển đổi giá trị sản phẩm nào của rau an toàn”- ông Trần Thế Như Hiệp nói.

Khách hàng mua sắm tại Thái Lan

Theo ông Phạm Nhật Trường, Phó Giám đốc Phòng Kinh doanh Hệ thống siêu thị Co.opmart, thời gian qua, nhằm mục đích tạo nguồn hàng ổn định, chất lượng cho hệ thống phân phối, Saigon Co.op đã đồng hành, hỗ trợ các hộ nông dân trên nguyên tắc đôi bên cùng có lợi, với nhiều hoạt động trao đổi, chia sẻ thông tin, hỗ trợ hướng dẫn thực hiện trồng trọt, chăn nuôi theo đúng quy trình sản xuất đạt chứng nhận sản phẩm an toàn hay VietGAP. Tuy nhiên, quá trình phân phối hàng hóa đến tay người tiêu dùng vẫn gặp nhiều bất cập như: sản xuất nhỏ lẻ, cơ sở ở xa, thông tin giao dịch chậm không thuận tiện cho việc giao nhận hàng hóa; nguồn cung không ổn định do ảnh hưởng yếu tố thời vụ, thời tiết; thị trường biến động, lúc giá cao, nông dân không giữ giá bán sản phẩm…

Tái cấu trúc thế nào?

Theo nhận định từ các chuyên gia kinh tế, những bất cập nói trên là thách thức lớn đối với hệ thống phân phối và bán lẻ nông sản Việt. Và để hoàn thiện hệ thống phân phối hàng nông sản trước hết phải từ việc quy hoạch, tổ chức lại sản xuất. Đây là điều kiện tiên quyết để giải quyết bài toán cung vượt cầu vào thời điểm chính vụ và khan hàng khi vào cuối vụ hoặc nghịch vụ. Theo ông Phạm Nhật Trường, Phó Giám đốc Phòng Kinh doanh Hệ thống siêu thị Co.opmart, các nhà sản xuất cần xây dựng kế hoạch lâu dài, đầu tư kỹ thuật cao nhằm tạo ra các sản phẩm mới, độc, lạ, có giá trị kinh tế cao, sản phẩm đặc sản… Các hộ nuôi, trồng lưu ý ngoài việc chọn lọc sản phẩm đầu tư theo xu hướng tiêu dùng, nên phân khu vực nuôi, trồng ra thành ao, vèo nhỏ để đáp ứng tốt nhu cầu của kênh phân phối lẻ.

Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và hình thành hệ thống phân phối hiện đại để làm cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng. Theo đó, ngành chức năng cần thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng trong hệ thống phân phối để tạo điều kiện cho những nhà phân phối và bán lẻ tốt nhất ra đời. Đặc biệt, cơ quan quản lý Nhà nước cần có sự hỗ trợ thực hiện các phương thức cung ứng dịch vụ, hợp đồng nông sản, thực hiện chuỗi phân phối hiện đại. Đồng thời, khuyến khích các cá nhân, tổ chức thành lập mạng lưới phân phối và bán lẻ mang tính quốc tế để phân phối và bán lẻ hàng nông sản Việt Nam. Đây là cách để thay thế dần phân phối hàng qua trung gian nước ngoài tốn nhiều chi phí và rủi ro cao.

Ông Bart Van Ahee, Giám đốc Công ty VAHOL B.V, Hà Lan, cho biết: “Hiện một hộp xoài cát Hòa Lộc (5kg) xuất sang châu Âu có giá 58 USD (tương đương 1,3 triệu đồng). Để bán được giá này, trong vòng 48 giờ sau khi hái khỏi cây, các trái xoài phải đến được châu Âu. Tuy nhiên, điều này không hề đơn giản mà phải xây dựng được chuỗi cung ứng, phân phối và hậu cần hoàn thiện. Đồng thời, các tác nhân trong chuỗi cũng phải cộng đồng trách nhiệm để cùng chia sẻ lợi nhuận và rủi ro”. Đồng quan điểm trên, đối với sản phẩm cá tra xuất khẩu của Việt Nam, ông Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, đề xuất các bộ ngành hữu quan thí điểm xây dựng đầu mối dịch vụ xuất khẩu cá tra. Đây là cách làm hữu hiệu không chỉ giảm đáng kể chi phí vận chuyển, dịch vụ mà còn loại trừ cạnh tranh nội bộ về giá, tăng cường cạnh tranh bằng chất lượng; làm giảm nguy cơ các vụ kiện chống bán phá giá và tạo cơ sở xây dựng thương hiệu quốc gia cho con cá tra Việt Nam.

Theo ông Trần Thế Như Hiệp, Viện Kinh tế-Xã hội TP Cần Thơ, đặc điểm sản xuất rau an toàn của người dân vẫn còn manh mún, sản lượng nhỏ lẻ, chưa thể sản xuất hàng hóa. Nông dân không thể cung ứng một số lượng lớn cho các đầu mối như vựa, siêu thị… Tình huống này đòi hỏi phải có sự tham gia của tác nhân thu gom để tập hợp sản phẩm. Do đó, để kênh phân phối rau an toàn phát triển bền vững cần phải chọn lựa kênh phân phối có ít tác nhân trung gian nhất. Cũng liên quan đến vấn đề các tác nhân tham gia vào hệ thống phân phối nông sản, ông Nguyễn Minh Toại, Giám đốc Sở Công thương TP Cần Thơ, cho rằng việc giảm tác nhân cùng tham gia vào hệ thống phân phối là cần thiết. Tuy nhiên, không thể ngày một, ngày hai có thể làm được mà phải có lộ trình phù hợp theo hướng giảm dần hoặc bỏ các khâu không cần thiết. Bởi bản thân người nông dân không thể làm ra sản phẩm rồi bán cho người tiêu dùng hoặc mang đi xuất khẩu được. Vấn đề làm làm sao để các tác nhân trong chuỗi cung ứng, hệ thống phân phối cùng chia sẻ lợi nhuận, rủi ro…

Giảm lượng khí thải Carbon – Xu thế phát triển cà phê của Việt Nam trong tương lai

Việt Nam là nước đứng thứ hai trên thế giới về sản lượng cà phê. Các nông dân trồng cà phê đang nỗ lực góp phần giảm thiểu lượng CO2 được thải ra bằng cách trồng các loại thực vật khác nhau bên cạnh cà phê.

Nông trại cà phê LION của tập đoàn RAINBOW Vịệt Nam

Đây là một trong những nhận định được đưa ra từ phía Chương trình Sáng kiến cảnh quan bền vững (ISLA) do IDH (Tổ chức sáng kiến Thương mại bền vững Việt Nam) sáng lập. Cụ thể, ông Daan Wensing – Giám đốc Cảnh quan Toàn cầu tại IDH, cho biết:“Biến đổi khí hậu là một mối đe dọa đòi hỏi phải xem xét lại các hệ thống canh tác, trong đó, có sản xuất cà phê. Nghiên cứu này mang lại hy vọng cho cộng đồng và nông dân trồng cà phê, giúp họ có thể phục hồi khí hậu nhanh hơn và trồng cà phê một cách bền vững hơn. Cùng với việc sử dụng phân bón và nước hiệu quả hơn, đa dạng hóa giống cây trồng có thể trở thành xu hướng đi đầu trong nỗ lực sản xuất cà phê lâu dài trong tương lai.”

Hạt cà phê được chắt lọc và tuyển chọn

Cụ thể, khu vực Tây Nguyên đang là “thánh địa cà phê” với vai trò cung cấp 95% sản lượng của Việt Nam. Đây là khu vực đang được kỳ vọng sẽ có những cải cách đáng kể để làm giảm lượng CO2 trong sản xuất. Bởi lẽ, nơi đây đang là một nguồn phát thải carbon khổng lồ thông qua việc sử dụng nước, phân bón và các nguồn năng lượng khác. Nhưng nếu thay thế các trang trại cà phê truyền thống bằng các trang trại cà phê đa dạng bằng cách trồng xen kẽ các loại cây khác như : hồ tiêu, bơ, sầu riêng….Chúng sẽ tạo ra nhiều sinh khối hơn và giúp cô lập nhiều CO2 hơn so với việc chỉ trồng mỗi cà phê.

Nông dân Việt Nam trồng cà phê

Theo số liệu báo cáo, các trang trại trồng cà phê truyền thống là nguồn phát thải carbon với 0,37 tấn CO2 trên mỗi tấn cà phê được sản xuất. Nhưng nếu trồng đa dạng nhiều loại cây xen lẫn cà phê, các trang trại này sẽ trở thành các bể chứa carbon và chỉ tạo ra 0,16 tấn CO2 hằng năm trên mỗi tấn cà phê. Nghiên cứu này kéo dài trong hai năm và đã phân tích lượng phát thải carbon trong sản xuất cà phê Robusta tại 300 trang trại ở các tỉnh Tây Nguyên là Lâm Đồng và Đăk Lăk.

Trồng cà phê xen hồ tiêu đang là xu hướng của nhiều hộ gia đình

Bên cạnh đó, ngoài ý nghĩa cải thiện môi trường, xoa dịu hiện trạng biến đổi khí hậu toàn cầu, người nông dân còn có thể mở rộng phạm vi nguồn thu nhập có sẵn thông qua việc sản xuất các giống cây trồng khác ngoài cà phê.

Ông Daan Wensing cho biết, “đa dạng hóa là một khái niệm đang phát triển ở Việt Nam. Khi nhiều nông dân áp dụng phương pháp này và các phương pháp nông lâm kết hợp khác, số lượng trang trại đóng vai trò là các bể chứa carbon sẽ phát triển. Nó sẽ trở thành động lực quan trọng trong cả việc giảm thiểu khí hậu lẫn tăng khả năng phục hồi môi trường.”

Đại lý BÁN BUÔN HÀNG TẠP HÓA – Nguồn thu “khủng” đến từ đâu?

BÁN BUÔN HÀNG TẠP HÓA

Trong bối cảnh các cửa hàng tạp hóa lại mọc lên như nấm thì người kinh doanh chắc chắn không thể làm ngơ với ý định mở đại lý phân phối những mặt hàng này. Một khi biết cách tìm nhà phân phối tạp hóa giá sỉ, nắm được báo giá các mặt hàng tạp hóa và tập trung vào nguồn hàng tiêu dùng thiết yếu, bạn sẽ sở hữu đại lý bán buôn hàng tạp hóa thu nhập “khủng”.

1. Phần chênh lệch giữa giá nhập và giá bán

Thông thường để sản phẩm từ nhà sản xuất đến tay các cửa hàng bán lẻ sẽ phải qua một vài bước trung gian, và một trong số đó chính là các đại lý bán buôn hàng tạp hóa. Một đại lý phân phối sẽ nhập hàng với số lượng lớn, bởi thế nên việc báo giá các mặt hàng tạp hóa sẽ có nhiều ưu đãi hơn hay hưởng chiết khấu từ nhà sản xuất. Với những sản phẩm có giá niêm yết trên bao bì, mức giá nhập buôn sẽ luôn có giá thấp hơn. Còn với những sản phẩm khác, mức giá nhập buôn sẽ thấp hơn so với giá trên thị trường. Phần chênh lệch này chính là nguồn thu chính của các đại lý bán buôn hàng tạp hóa.

BÁN BUÔN HÀNG TẠP HÓA

Đối với mặt hàng tạp hóa, độ chênh lệch mức giá này có thể không quá cao, tuy nhiên, số lượng mà các cửa hàng bán lẻ nhập về lại không nhỏ. Đặc biệt trong thời điểm hiện nay, nhu cầu người tiêu dùng tăng cao. Các cửa hàng tạp hóa sẽ nhập về số lượng hàng rất lớn, gồm những mặt hàng tiêu dùng thiết yếu… Bởi thế cho dù độ chênh lệch không lớn nhưng đây chắc chắn vẫn là nguồn lợi nhuận “khủng” đối với các đại lý phân phối.

2. Tiền trưng bày sản phẩm trong cửa hàng

“Mở cửa hàng bán tạp hóa không cần tham lãi nhiều, mỗi món một chút, thậm chí có những món không lãi mà vẫn bán. Không vấn đề gì cả, vì ngoài tiền lãi mình ăn thì còn có cả tiền trưng bày sản phẩm của các nhà cung cấp nữa.” – Chia sẻ của chị Yến, chủ một đại lý bán buôn hàng tạp hóa trên phố Nguyễn Lương Bằng – Hà Nội.

BÁN BUÔN HÀNG TẠP HÓA
Sản phẩm của RAINBOW Group tại hệ thống siêu thị

Một đại lý bán buôn hàng tạp hóa hay bán hàng tạp hóa giá sỉ sẽ luôn có nhiều người ra vào, mua bán qua lại, họ đều là những vị khách tìm đến để nhập hàng, nên đây sẽ là những đối tượng khách hàng rất tiềm năng. Vì thế các nhà cung cấp thường mong muốn sản phẩm của mình được đặt ở các vị trí đặc biệt nổi bật để bắt mắt hơn, khách hàng sẽ dễ dàng trông thấy hơn.

Để làm được điều đó, các nhà sản xuất và nhà cung cấp sẽ phải trả một khoản tiền không nhỏ cho đại lý bán buôn hàng tiêu dùng. Đây cũng giống như một hình thức quảng cáo, bạn bỏ một khoản tiền ra để giúp sản phẩm của mình được nhiều khách hàng tiềm năng biết đến hơn, đạt mức tiêu thụ cao hơn. Đặc biệt với các sản phẩm có ít lãi, giá rẻ như bim bim, dầu gội, kẹo cao su, bút bi,… thì mức giá cho “vị trí đẹp” này còn mang lại cho cửa hàng bán buôn nguồn thu lớn hơn nhiều so với tiền lãi sản phẩm.

3. Dự trữ hàng chờ tăng giá

“Bên cạnh tiền lãi và tiền trưng bày sản phẩm thì đại lý bán buôn hàng tạp hóa còn có thêm nguồn thu từ việc dám “ôm” hàng dự trữ đề phòng mức giá tăng lên, phần này mới là quan trọng. Các mặt hàng dự trữ không bao giờ lo bị giảm giá mà khả năng sinh lời lại rất cao. Đặc biệt là các sản phẩm như bỉm, sữa, dầu ăn, các loại rượu,…” – Chị Yến chia sẻ thêm.

Thực tế, các mặt hàng có nhu cầu cao rất dễ tăng giá. Nếu như các chủ đại lý dự tính được điều này, “đánh liều” dự trữ và nhập hàng về với giá cũ và chờ thời cơ tăng giá thì khoản lợi nhuận này sẽ không hề nhỏ. Các mặt hàng đều là những mặt hàng thiết yếu, có có lượng tiêu thụ lớn nên rất ít khi rơi vào tình trạng tồn kho hay xuống giá.

Gian hàng của RAINBOW VIỆT NAM
Gian hàng của RAINBOW VIỆT NAM

Dù vậy, việc tích hàng dự trữ chỉ nên áp dụng với một số mặt hàng nhất định, đó sẽ là các loại hàng có hạn sử dụng lâu dài, dễ bảo quản như bỉm, dầu ăn,… Hơn nữa nên lựa chọn các mặt hàng thiết yếu, có nhu cầu cao, có lượng tiêu thụ lớn, như vậy chắc chắn sẽ thu về phần lợi nhuận vô cùng lớn.

Để biết được một sản phẩm sẽ lên giá không quá khó, nhiều trường hợp các đầu mối sẽ chủ động báo trước ít nhất là 1 tuần để các đại lý có phương án dự trữ. Ngoài ra, vấn đề tồn kho cũng không phải trở ngại quá lớn vì nhiều nhà cung cấp sẽ nhận hồi lại những sản phẩm này.

5 bước đơn giản để bắt đầu kinh doanh cà phê

5 bước đơn giản để bắt đầu kinh doanh cà phê

Theo nghiên mới nhất được công bố, hiện ở Anh có khoảng hơn 12.000 cửa hàng cà phê, trong đó có 6.400 cửa hàng độc lập. Hai trong những thương hiệu cà phê khiến quốc gia này được nhiều người biết đến hơn là Costa và Starbucks.

Giá trị của ngành công nghiệp này ước đạt 2 tỷ bảng Anh, và nó vẫn đang phát triển – quán cà phê là các doanh nghiệp lớn. Thực hiện theo những lời khuyên dưới đây để tối đa hóa cơ hội thành công của bạn khi bắt đầu kinh doanh một quán cà phê.

1. Đừng ngại hỏi một số kinh nghiệm kinh doanh

hoc-hoi

Nếu bạn chưa bao giờ làm việc trong một cửa hàng cà phê hoặc chưa có cơ hội tiếp xúc với ngành công nghiệp này nhưng bạn vẫn muốn tự mình xây dựng một đế chế cà phê thì sẽ là một ý tưởng tốt khi bạn dành ít nhất một vài tuần làm việc tại những vị trí liên quan.

Bạn cũng có thể sử dụng thời gian này để có được lời khuyên vô giá về cách làm cho doanh nghiệp của bạn thành công – miễn là bạn không cạnh tranh trực tiếp với họ, bạn sẽ tìm thấy rất nhiều điều hữu ích từ những chủ doanh nghiệp khác.

2. Đứng ra khỏi đám đông

hinh-anh

Bạn cần phải có một động lực trong tiến trình kinh doanh của mình nhưng điều đầu tiên là dám tạo ra những điều khác biệt. Phát triển một bản sắc độc đáo là điều vô cùng quan trọng – cung cấp cho người tiêu dùng một lý do để chọn quán của bạn giữa vô vàn những cửa hàng cà phê trên cùn một con phố.

Có lẽ bạn sẽ hướng đến chất lượng – làm điều gì đó tốt hơn; hoặc là dịch vụ hay là diện mạo,…tất cả vẫn còn phụ thuôc vào đối tượng khách hàng mà bạn lựa chọn.

3. Địa điểm là rất quan trọng

dia-diem

Hai phần ba số người mua cà phê khi họ đang đi trên đường vì vậy sẽ thuận lợi hơn nếu bạn chọn một vị trí có nhiều ngã rẽ, con đường đi qua, hãy để ý đến đường đi bộ hay vỉ hè. Điều này rõ ràng sẽ rất tốn kém, mặc dù bạn có thể quyết định để di chuyển đến một địa điểm rộng rãi hơn ra khỏi lối mòn, chi tiêu số tiền tiết kiệm để mua nguyên liệu và nâng cao chất lượng cà phê của bạn.

Một số chuỗi cà phê lớn như Costa, Starbucks và Nero Coffee được thiết lập các khu vực tập trung đông người qua lại. Nhưng đó là những “ông lớn”, còn bạn khi mới bắt đầu, chắc chắn tiềm lực tài chính của bạn chưa đủ. Bạn cần cân nhắc giữ chi phí thuê địa điểm với chất lượng sản phẩm, đâu là cái đối tượng khách hàng nơi bạn kinh doanh thực sự cần?

4.Nắm rõ vấn đề của bạn

Bạn nên nắm rõ vấn đề của bạn hay quán cà phê ngay từ những ngày đầu tiên, khi mà quán còn chưa có nhiều khách. Điều này sẽ giúp bạn có thời gian nhiều hơn hoàn thiện mọi thứ như ghế tựa, đèn chùm hay bình hoa để bàn,…

Việc lựa chọn không gian quán cũng thực sự quan trọng, bạn cần tính toán trước:

  • Quán cà phê nhỏ (15 – 45 chỗ ngồi): 45m2 – 90m2
  • Quán cà phê trung bình (45 – 100 chỗ ngồi): 90m2 – 180m2
  • Quán cà phê lớn (trên 100 chỗ ngồi): >180m2

5. Chú trọng vấn đề vệ sinh

Bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần nhận thức sâu sắc những vấn đề liên quan đến vệ sinh, pháp luật. Cơ quan tiêu chuẩn thực phẩm (FSA) sẽ kiểm tra mọi vấn đề vệ sinh, an toàn thực phẩm tại bất cứ ngõ ngách nào trong quán cà phê của bạn, ngay cả dưới gầm ghế. Bạn cần giữ cho quán cà phê gọn gàng, sạch sẽ để lấy được thiện cảm đầu tiên của khách hàng, bởi chẳng có ai chịu ngồi tán gẫu ở một nơi thật lộn xộn.

Một số vấn đề về chi phí bạn cũng cần chú ý đến và có những bảng kế hoạch cụ thể cho từng loại chi phí.

Chi phí của bạn sẽ phụ thuộc vào loại hình kinh doanh cà phê mà bạn muốn mở, chi phí mặt bằng bán lẻ trong cộng đồng của bạn và nhiều yếu tố khác. Nếu bạn đã sở hữu một tòa nhà phù hợp hoặc có một doanh nghiệp bổ sung, chi phí có thể thấp hơn nhiều. Ngoài chi phí khởi động, bạn cần phải có tiền mặt để trang trải tất cả các chi phí điều hành trong 6 tháng đầu tiên.

Dưới đây là một danh sách ngắn gọn về chi phí để xem xét:

* Chi phí thuê và xây dựng địa điểm: Theo quy định, tiền thuê nhà không nên nhiều hơn 15% doanh thu bán hàng dự kiến;

* Trang thiết bị bao gồm máy pha cà phê, xay cà phê, sinh tố, tủ lạnh,….và rất nhiều thiết bị chiếu sáng, trang trí,…;

* Nguyên liệu chính cho quán cà phê như cà phê, đường hay một số phụ như bánh ngọt, bánh nướng xốp; nó chỉ nên chiếm khoảng 40% doanh thu dự kiến;

* Phí dịch vụ cho các kiến ​​trúc sư, luật sư, kế toán và tư vấn kinh doanh;

* Tiền lương, kể cả trợ cấp, thuế, bồi thường lao động và chi phí xử lý bảng lương. Theo quy tắc chung, chi phí tiền lương phải nhỏ hơn hoặc bằng 35% doanh thu;

* Chi phí gốc và lãi (nếu bạn có kế hoạch vay tiền);

* Rất nhiều loại chi phí nhỏ lẻ khác như vật tư văn phòng, quảng cáo,…hay một số chi phí cố định như điện nước, sửa chữa và bảo trì.

Tác động của virus Corona đến ngành FMCG: Bài học từ đại dịch SARS

Dựa vào dữ liệu mua hàng tại Trung Quốc năm 2003, các nhà nghiên cứu dự đoán việc thay đổi hành vi tiêu dùng có thể mang đến những thách thức và cơ hội mới cho ngành FMCG trong nạn dịch Corona năm nay.

Theo đánh giá của công ty nghiên cứu Kantar Worldpanel, đại dịch SARS – Hội chứng hô hấp cấp nặng bùng nổ vào năm 2003 đã tác động đáng kể đến ngành hàng FMCG ở Trung Quốc.

Cụ thể, doanh thu ngành hàng tiêu dùng nhanh ở 15 thành phố của Trung Quốc suy giảm mạnh vào tháng 4, tháng 5 năm 2003 – đây cũng là lúc các ca nhiễm SARS đạt đỉnh điểm. Đến tháng 6, thị trường đã quay trở lại mức tăng trưởng bình thường.

Trong thời gian chiến đấu với SARS, người dân có xu hướng tích trữ thực phẩm tại nhà, điều này khiến doanh số của các cửa hàng ăn uống bị giảm rõ rệt. Ngoài ra, lượng tiêu thụ các chất tẩy rửa gia dụng và vệ sinh cá nhân cũng tăng vọt.

“Cơn ác mộng” SARS cũng mang lại lợi ích cho các siêu thị lân cận và cửa hàng tiện lợi.

Phía Kantar Worldpanel cũng nhận định rằng, năm 2003 được xem là “bước đà” cho ngành thương mại điện tử non trẻ tại Trung Quốc. Ngày 10/5/2003, Jack Ma đã sáng lập ra trang mạng mua sắm trực tuyến Taobao giữa bối cảnh khủng khiếp của đại dịch SARS, giúp người dân yên tâm hơn khi mua sắm tại nhà.

Từ tác động mạnh mẽ của đại dịch SARS đến ngành FMCG tại Trung Quốc, các nhà nghiên cứu đã đưa ra dự đoán trong thời thế khủng hoảng của dịch Corona: “Năm 2020 sẽ có một sự chuyển đổi lớn từ mua sắm trực tiếp sang các kênh thương mại điện tử. Mô hình phân phối “No Physical Contact” (Không tiếp xúc thân thể) dường như rất phù hợp với tâm lý của người tiêu dùng khi phòng bệnh tại nhà hiện nay.”